Bé Trai 2 Tuổi Bị Bỏ Rơi Ở Bệnh Viện. Được Lao Công Cưu Mang – 20 Năm Sau, Bố Mẹ Khóc Xin Tha Thứ!
Chiếc ghế nhựa sát tường lạnh buốt, và trên đó, một đứa bé hai tuổi đang co quắp như con mèo bị bỏ quên.
Đó là tôi. Tôi không nhớ gì về đêm cuối tháng chạp ấy. Mọi thứ tôi biết đều do mẹ nuôi kể lại, từng chữ một, chậm rãi như sợ làm tôi đau. Người nóng như than, môi tím tái, chân chỉ còn một chiếc dép, cổ họng khản đặc vì gọi mẹ. Viêm phổi nặng. Và bố mẹ ruột tôi đã biến mất khỏi bệnh viện huyện trước khi trời sáng.
Tôi tên Nguyễn Văn Minh, hai mươi hai tuổi, đang học năm cuối ngành y. Nếu ai hỏi tôi hận bố mẹ ruột không, mấy năm trước tôi sẽ trả lời hận đến tận xương tủy. Bây giờ tôi chỉ biết có những nỗi đau không chữa được bằng hai tiếng xin lỗi.
Đêm ấy, bố tôi, ông Hùng, kéo mẹ tôi ra hành lang. Có người nghe ông nói: nếu cứ chữa tiếp cho thằng bé thì cả nhà chết đói. Mẹ tôi níu tay chồng khóc, nhưng cuối cùng bà vẫn bước theo ông. Họ để lại một chiếc túi vải cũ với hai bộ quần áo, một tờ giấy ghi tên tôi, và trong túi áo tôi là một mảnh giấy nhàu nát: “Chúng tôi không còn tiền, xin ai thương thì cứu cháu.”
Người đi ngang hành lang lúc gần sáng là bà Lành, lao công của bệnh viện, hơn bốn mươi tuổi, góa chồng, không con. Bà nghe tiếng khóc yếu ớt, chạy lại, đặt tay lên trán tôi và hoảng hốt bế thốc tôi lên. Tôi hé mắt, miệng cứ gọi mẹ ơi, rồi lịm đi trong vòng tay bà.
Bà không biết tôi là con ai. Bà chỉ biết trong chiếc túi vải bạc màu của mình có hơn một triệu đồng, số tiền dành dụm nhiều tháng để sửa mái nhà trước mùa mưa. Bà đặt hết lên quầy thu viện phí. Người thu ngân hỏi bà có quan hệ gì với đứa trẻ. Bà đáp: “Tôi chỉ là người quét dọn, nhìn thấy nó bị bỏ lại.” Đồng nghiệp kéo bà ra một góc khuyên đừng ôm việc vào thân. Bà nhìn qua ô cửa kính, thấy tôi nằm dưới mặt nạ oxy nhỏ xíu, hai bàn tay quờ quạng như đang tìm người ôm, và bà không quay đi được nữa.
Sáng hôm sau bà xin ứng trước hai tháng lương. Bà không kể cho tôi nghe điều này, mãi sau tôi mới biết bà còn lấy cả khoản tiền định đi khám bệnh tim của chính mình để lo cho tôi.
Gần hai tuần sau tôi ra viện, bố mẹ ruột vẫn bặt vô âm tín. Địa chỉ để lại không còn ai ở. Một chiều, tôi ôm chặt chân bà mà gọi mẹ. Bà đứng chết lặng, rồi ngồi xuống ôm tôi khóc rất lâu. Bà kể, đó là lần đầu tiên sau bao năm bà thấy trên đời có một người thật sự cần mình.
Nhưng có một điều bà đã giấu, suốt hai mươi năm: trong chiếc túi vải bố mẹ tôi bỏ lại còn một tấm ảnh gia đình bị xé mất một góc. Bà không nỡ vứt. Bà gói nó cùng mảnh giấy, cất vào chiếc hộp thiếc dưới đáy tủ. Bà không biết hai mươi năm sau, tấm ảnh rách ấy sẽ đặt một gia đình giàu có vào cảnh không còn chỗ trốn.
Năm sáu tuổi, một đứa bạn chỉ vào mặt tôi giữa sân trường: “Mày là đứa bị vứt ở bệnh viện, bà quét rác nhặt về nuôi.” Tôi lao vào đánh nhau. Về nhà, tôi đứng giữa sân hỏi mẹ: “Mẹ ơi, có phải con là đứa bị người ta vứt đi không?” Chiếc thùng nước trên tay mẹ rơi xuống, nước đổ láng nền sân. Mẹ ôm tôi, nói: “Có người sinh con ra mà không đủ can đảm ở bên con. Có người không sinh ra con mà vẫn dành cả đời cho con.”
Đêm đó tôi ôm mẹ rất chặt, mỗi lần mẹ trở mình tôi lại giật mình tỉnh, sợ mở mắt ra sẽ không thấy mẹ đâu.
Một buổi tối tôi tỉnh dậy vì khát. Qua khe cửa bếp, tôi thấy mẹ ngồi một mình, trước mặt chỉ có bát cơm nguội và đĩa muối trắng. Mẹ chấm từng miếng cơm vào muối, nhai thật chậm. Hóa ra những bữa mẹ bảo “mẹ ăn ở quán rồi” đều là dối. Sáng hôm sau, mẹ đặt quả trứng luộc vào bát tôi, tôi gắp trả lại: “Con muốn mẹ ăn cùng.” Mẹ nhìn tôi một lúc rồi bẻ quả trứng làm đôi, phần lớn hơn đặt vào bát tôi.
Năm tám tuổi, tôi lén nhặt chai nhựa bán lấy tiền mua lọ dầu xoa bóp cho mẹ đang đau lưng. Mẹ khóc, nói: “Việc của con là học hành, mẹ khổ một chút không sao.” Tôi biết mẹ nói dối. Năm mười tuổi, tôi mở chiếc hộp thiếc dưới đáy tủ, đọc mảnh giấy ấy, và hiểu rằng mình từng bị chính bố mẹ ruột bỏ lại.
Tôi bỏ học, đạp xe hai tiếng đến bệnh viện cũ, ngồi xuống một chiếc ghế gần khu cấp cứu. Có một đứa bé khóc vì sợ, bố nó ôm vào lòng: “Bố ở đây rồi, đừng sợ.” Nước mắt tôi tự chảy. Mẹ tìm thấy tôi vào quá trưa, lao tới ôm chầm, và ngay khi bà vừa nói “mẹ chưa từng nghĩ sẽ bỏ con”, vòng tay bà bỗng lỏng ra. Mặt bà tái nhợt, tay ôm ngực, rồi bà khuỵu xuống ngay trước mặt tôi.
Ngồi bên giường bệnh hôm ấy, tôi nắm tay mẹ và hứa: “Sau này con sẽ làm bác sĩ. Con không muốn có thêm đứa trẻ nào phải nằm một mình trong bệnh viện như con ngày trước.”
Từ hôm đó tôi học như người điên. Nhưng tôi không biết rằng để lo cho tôi thi vào trường chuyên của tỉnh, mẹ đã mang chiếc nhẫn cưới của người chồng quá cố ra tiệm vàng. Mẹ giữ nó gần hai mươi năm, không bán kể cả những ngày hết gạo. Hôm ấy người chủ tiệm hỏi bà có chắc không. Bà chỉ gật đầu, đứng nhìn ngón tay trống không của mình rất lâu rồi lặng lẽ đạp xe về. Mãi sau này tôi mở hộp kỷ vật, thấy chỗ đặt nhẫn đã trống. Tôi quỳ xuống xin lỗi. Mẹ kéo tôi dậy: “Mẹ mất một chiếc nhẫn nhưng có được một đứa con ngoan. Như thế là mẹ lời rồi.”
Cuối năm lớp mười một, tôi nhận điện thoại báo mẹ ngất xỉu khi đang lau hành lang. Bác sĩ nói tim mẹ có vấn đề, từ lâu rồi, vì bà cứ chịu đựng để tiết kiệm tiền. Tôi chạy về, nắm tay mẹ hỏi: “Nếu mẹ có chuyện gì, con biết sống với ai?”
Mẹ nói: “Mẹ chưa đi đâu cả. Mẹ còn phải chờ ngày con mặc áo bác sĩ.”
Ngày tôi đậu đại học y, mẹ mặc chiếc áo hoa tím cũ nhất, đứng chờ ngoài cổng với bó hoa hái ngoài vườn. Còn ở một nơi khác, bố mẹ ruột tôi đã trở thành những người khá giả: nhà lớn, ô tô, một cậu con trai út tên Gia Bảo được chiều chuộng hết mực. Họ không biết đứa con họ bỏ lại vẫn còn sống. Họ càng không biết, mình đang từng ngày tiến gần đến cuộc gặp sẽ khiến cả gia đình phải đối diện với quá khứ.
Năm hai mươi hai tuổi, tôi được phân thực tập đúng tại bệnh viện huyện năm xưa. Chiều hôm ấy khoa cấp cứu tiếp nhận một người đàn ông ngoài năm mươi bị tai nạn giao thông, áo sơ mi đắt tiền, đồng hồ sáng bóng, cứ hỏi điện thoại của mình đâu. Tôi hỗ trợ ca trực như với bất kỳ bệnh nhân nào. Trên hồ sơ ghi: Nguyễn Văn Hùng.
Ông nhìn tôi rất lâu, hỏi tên, hỏi tuổi, hỏi quê, hỏi bố mẹ tôi làm nghề gì. Tôi đáp tôi chỉ có mẹ, mẹ từng làm lao công ở chính bệnh viện này. Tôi không thấy rằng sắc mặt ông đã thay đổi.
Vài giờ sau, vợ ông đến. Tôi hướng dẫn bà tới phòng bệnh, rồi quay sang lấy tập hồ sơ, để lộ vết bớt nhỏ sau tay trái. Tôi nghe tiếng chiếc túi xách rơi xuống nền gạch. Bà đứng đó, môi run rẩy, nhìn tôi như nhìn thấy điều kinh khủng nhất đời mình.
“Cháu… có phải tên Nguyễn Văn Minh không?”
……………………………………………
Tôi chưa kịp trả lời thì bà đã hỏi liền mấy câu: tuổi, quê quán, tên mẹ nuôi. Nghe đến cái tên Nguyễn Thị Lành, bà ôm ngực, lùi một bước, lẩm bẩm: “Không thể nào.” Rồi bà vội nhặt túi xách chạy vào phòng chồng. Sau này chính bà kể lại, bà hỏi ông Hùng một câu: còn nhớ đứa con trai tên Minh hai vợ chồng bỏ lại bệnh viện hai mươi năm trước không.
Ông Hùng không nhận. Ông bảo vợ đừng nói bừa, chưa có bằng chứng, lỡ chuyện cũ lộ ra thì danh tiếng gia đình chẳng còn gì.
Nhưng bà Hương không chịu thôi. Bà tìm đến bác sĩ Thành, người từng trực đêm tháng chạp năm ấy. Ông nhìn bà rất lâu rồi kể: đứa bé sốt cao, nếu không có bà Lành thì khó qua khỏi, bà đã đem gần hết tiền dành dụm ra đóng viện phí. Bà Hương ngồi khóc không ngẩng nổi đầu. Về nhà, bà mở ngăn tủ khóa kín, lấy ra nửa tấm ảnh gia đình ố vàng, nửa bà đã xé ra rồi cất giữ vì sợ sau này không còn nhớ rõ mặt con.
Bà sợ quên mặt tôi, nhưng không sợ tôi lớn lên mà không biết mặt bố mẹ.
Hôm sau bà tìm đến căn nhà cấp bốn cuối làng. Mẹ nuôi tôi đang ngồi nhặt rau. Bà Hương lấy nửa tấm ảnh đặt lên bàn. Mẹ đứng dậy, mở tủ, lấy chiếc hộp thiếc đã giữ hai mươi năm, đặt mảnh còn lại bên cạnh. Hai đường rách khớp nhau gần như hoàn toàn. Khuôn mặt ông Hùng, bà Hương và đứa trẻ hai tuổi hiện ra nguyên vẹn.
Mẹ chỉ hỏi một câu: “Hai mươi năm qua, chị có bao giờ đến bệnh viện hỏi xem thằng bé còn sống không?” Bà Hương cúi gằm mặt, không đáp nổi.
Cuối tuần tôi về nhà, thấy bức ảnh ghép giữa bàn. Người đàn ông trong ảnh dù già đi hai mươi năm vẫn giống hệt bệnh nhân tôi vừa chăm sóc. Tôi hỏi mẹ, mẹ gật đầu. Tôi bật cười trong nước mắt: “Ngày xưa ông do dự giữa tiền bạc và mạng sống của con. Bây giờ ông do dự giữa danh tiếng và việc nhận con.”
Chưa kịp tìm đến ông, tôi đã nhận được lời hẹn của ông Hùng ở một quán cà phê kín đáo. Trên bàn là hai tách trà và một chiếc phong bì dày. Ông không gọi tôi một tiếng con, không hỏi hai mươi năm qua tôi sống thế nào. Ông thừa nhận ông là người đã quyết định bỏ tôi lại. Rồi ông đẩy phong bì về phía tôi, nói đây là chút cảm ơn vì tôi đã giúp ông, và mong tôi giữ kín chuyện cha con, nhất là đừng để Gia Bảo biết.
Tôi nhìn phong bì, hỏi ông: “Hai mươi năm trước bố mẹ bỏ con vì không có tiền. Hai mươi năm sau bố dùng tiền để mua sự im lặng của con sao?”
Ông sững người. Tôi kể mẹ Lành từng nhịn ăn để tôi có quả trứng, rửa bát thuê đến khuya, bán nhẫn cưới để tôi vào trường chuyên. Tôi đẩy phong bì trả lại. Ông gọi tôi ngồi xuống, nói tôi còn trẻ, chưa hiểu hết nỗi khó của người làm cha. Tôi đáp: “Người làm cha có thể nghèo, có thể thất bại, nhưng không thể lấy khó khăn làm lý do bỏ mặc con đang hấp hối. Con không hận ông nghèo hai mươi năm trước. Con đau vì hai mươi năm sau, khi đã giàu, ông vẫn không đủ can đảm nhận con.”
Ra đến đường, chân tôi mềm nhũn. Tôi gọi cho mẹ và bật khóc ngay khi nghe giọng bà hỏi “con ăn cơm chưa”. Mẹ chỉ dặn: “Mẹ thương con, nhưng đừng để đau mà mang oán hận suốt đời.”
Rồi biến cố ập đến cho gia đình ông Hùng. Công ty vật liệu xây dựng liên tiếp gặp khó, ông phải bán xe, bán đất. Gia Bảo đổ bệnh, được chẩn đoán một bệnh huyết học nghiêm trọng. Ông Hùng, người từng tin có tiền là giải quyết được mọi chuyện, lần đầu đối diện với điều tiền không bảo đảm được: sức khỏe của chính con mình.
Một đêm bà Hương ngồi khóc ngoài hành lang. Ông Hùng tìm ra, bà nói: “Bây giờ em mới hiểu đêm năm xưa hai ta tàn nhẫn đến mức nào. Nếu có người bảo anh bỏ Gia Bảo lại bệnh viện cho đỡ tốn tiền, anh có làm không?” Ông cáu lên: “Làm sao bỏ con lúc bệnh nặng?” Bà nhìn thẳng vào mắt chồng: “Vậy tại sao ngày ấy anh bỏ Minh?”
Ông không trả lời nổi. Lần đầu tiên, ông bị đặt đúng vào hoàn cảnh mà hai mươi năm trước ông đã trốn chạy.
Hai tuần sau, Gia Bảo được chuyển đến chính bệnh viện nơi tôi thực tập. Em xanh xao trên chiếc giường đẩy, vẫn cố mỉm cười khi điều dưỡng hỏi han. Lần đầu tiên trong đời tôi tận mắt thấy người em trai cùng cha cùng mẹ. Em hỏi: “Anh là sinh viên y khoa ạ? Em cũng từng muốn học y.” Tôi thấy lòng thắt lại.
Khi biết em thiếu máu nặng, tôi hỏi bộ phận hiến máu xem mình có đủ điều kiện không. Tôi không nghĩ đến chuyện trả ơn hay nhận lại gia đình, chỉ nghĩ đó là em tôi.
Một đêm, Gia Bảo vô tình nghe bà Hương nói với ông Hùng ngoài cửa rằng tôi là anh ruột của em, đứa con hai vợ chồng bỏ lại bệnh viện hai mươi năm trước. Sáng hôm sau em gọi tôi vào, giọng run run: “Anh Minh, có phải anh là anh trai ruột của em không?”
Tôi gật đầu. Em khóc, hỏi liệu bố mẹ có thật sự bỏ anh. Rồi em nắm lấy tay tôi: “Anh chưa cần tha thứ cho bố mẹ. Nhưng anh cho em gọi anh là anh trai được không?” Suốt hai mươi hai năm tôi từng ước có một người em để chia nhau cái bánh. Tôi nghẹn đến không nói nên lời.
Ông Hùng bước vào đúng lúc ấy. Gia Bảo nhìn bố: “Bố, con hỏi bố có đúng không?” Ông cúi đầu, cuối cùng thừa nhận. Em bật khóc: “Bây giờ bố sẵn sàng bán nhà bán xe chữa bệnh cho con, vậy sao ngày ấy bố bỏ anh Minh? Con không cần bố giàu, con chỉ muốn bố dám nhận mình đã sai.”
Ông Hùng gục xuống, hai tay ôm đầu.
Rồi đến lượt mẹ tôi. Một đêm bà đau ngực dữ dội, tôi đưa bà vào cấp cứu. Đứng ngoài cánh cửa đóng kín, tôi chợt nhận ra mình đang đứng đúng chỗ hai mươi năm trước bà từng đứng chờ người ta cứu tôi. Ông Hùng đến đặt tay lên vai tôi, không hứa hẹn, không nhắc tiền bạc. Tôi không gạt ra. Bà vượt qua cơn nguy hiểm, nhưng yếu đi rõ rệt. Trên giường bệnh, bà nắm tay tôi: “Mẹ chỉ mong con bình yên với quá khứ, không còn phải sống như một đứa trẻ không ai cần.”
Đêm ấy bà đưa cho tôi một phong thư cũ viết từ nhiều năm trước, dặn khi nào bà không còn đủ sức nói thì hãy mở. Trong đó có ba tờ giấy viết tay và một tờ biên nhận vay tiền. Bà kể khoản tiền bà định đi khám tim, bà đã dùng hết cho tôi, rồi vay thêm, làm thêm gần ba năm mới trả xong. Tôi hỏi có phải vì thế mà bà trì hoãn chữa bệnh. Bà gật đầu: “Mẹ nghĩ mình còn chịu được, còn con thì không chờ được.”
Tôi mang tờ biên nhận đặt trước mặt ông Hùng. Ông cầm lên, nhìn chữ ký của mẹ, bàn tay run bần bật. Rồi ông quỳ xuống bên giường bệnh, khóc đến mức không đứng dậy nổi. Ông xin lỗi vì đã bỏ đứa con đang bệnh nặng, vì để một người đàn bà nghèo gánh phần trách nhiệm đáng lẽ của ông, vì sau khi gặp lại tôi ông vẫn chỉ nghĩ đến tiền và danh tiếng. Ông không đổ lỗi cho nghèo khó, cũng không đòi ai tha thứ.
Mẹ bảo ông đứng dậy: “Chuyện đã qua không đổi được. Từ nay sống cho tử tế, đừng bỏ mặc người thân lúc khó khăn nữa.”
Sau đó, ông thú nhận một điều làm tôi khóc rất lâu: đêm ấy khi bước đến cuối hành lang, ông nghe tiếng tôi khóc gọi bố mẹ. Ông từng dừng chân. Rồi ông vẫn kéo vợ đi tiếp.
Ngày tôi nhận bằng tốt nghiệp, mẹ mặc bộ áo dài tím nhạt, bước chậm nhưng mặt rạng rỡ. Gia Bảo cầm một bó hoa nhỏ với tấm thiệp “Chúc mừng anh trai”. Ông Hùng đứng phía sau, không chen lên, đợi tôi chụp xong với mẹ rồi mới rụt rè hỏi cả nhà có thể chụp chung một tấm không. Mẹ Lành đứng giữa. Lần này trong bức ảnh không còn thiếu ai.
Sau này tôi đưa mẹ về lại hành lang bệnh viện cũ, cùng cả gia đình ông Hùng. Trước chiếc ghế dài, ông quỳ xuống trước mặt mẹ. Bà nhìn về nơi bà từng bế tôi lên và nói: “Ngày đó mẹ chỉ biết nếu bỏ mặc con, mẹ sẽ ân hận cả đời.”
Tôi chưa gọi ông là bố. Có lẽ một ngày nào đó sẽ gọi, khi trái tim tôi thật sự chấp nhận. Ông nói ông sẽ chờ. Hai mươi năm trước ông không chờ con khỏi bệnh. Hai mươi năm sau, ông học cách chờ một tiếng gọi.
Mẹ vẫn hỏi tôi mỗi lần về: “Con ăn cơm chưa?” Chiều qua, ông Hùng gọi báo vừa mua được ít rau sạch, muốn mang sang biếu mẹ. Tôi nghe mà bật cười. Ngày xưa ông dùng một phong bì để mua sự im lặng của tôi. Bây giờ ông cẩn thận mang từng bó rau đến thăm người đã nuôi con ông.
Tối nay tôi ngồi bên giường mẹ, nhìn bàn tay gầy guộc đặt trên chăn, ngón áp út vẫn trống không. Ngoài hiên, trời bắt đầu mưa. Mái nhà cũ đã không còn dột, nhưng mỗi lần mưa tôi vẫn nghe tiếng nước nhỏ xuống chậu năm nào, và nhớ chiếc áo bông bà trải ra cho tôi nằm, còn bà nằm sát mép giường che gió.





