Bị Đồng Đội Khinh Miệt, Nữ Trung Úy Công Binh Việt Nam Làm Cả Căn Cứ Cúi Đầu  ….

Bị Đồng Đội Khinh Miệt, Nữ Trung Úy Công Binh Việt Nam Làm Cả Căn Cứ Cúi Đầu  ….
Tôi là Nguyễn Mỹ Hạnh, trung úy công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và cái tát ấy, đến tận bây giờ mỗi khi chạm vào má, tôi vẫn còn cảm nhận được cái nóng rát bỏng cùng nỗi nhục nhã trào dâng.
“Nguyễn Mỹ Hạnh, cô đang làm cái trò gì vậy?”
Giọng trung tá Hùng vang lên giữa sân căn cứ như sấm sét. Bàn tay ông giáng xuống mạnh mẽ. **Bốp!** Cái tát trời giáng khiến đầu tôi lệch hẳn sang một bên. Má trái nóng ran, như bị lửa đốt. Tôi cắn chặt môi đến chảy máu, đứng thẳng người, không khóc, không kêu, không cãi. Chỉ có tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực, từng nhịp như muốn vỡ tung.
Xung quanh là ánh mắt của hàng chục đồng đội. Im lặng. Né tránh. Một số người cúi mặt xuống đất, như thể tôi là một vết nhơ không nên nhìn thẳng vào. Không khí oi bức của căn cứ dã chiến giữa sa mạc càng thêm ngột ngạt. Mùi bụi cát, mùi dầu diesel, mùi mồ hôi nam giới hòa quyện khiến tôi buồn nôn.
Lúc ấy, tôi chỉ nghĩ một câu: “Mình đến đây để cứu người, không phải để xin phép ai.”
Tôi tên Hạnh, quê Quảng Nam nghèo khó. Bố tôi là cựu chiến binh, một chân bị mìn cụt từ thời chiến tranh biên giới. Mẹ tôi làm ruộng, gánh nặng cả nhà trên đôi vai gầy guộc. Từ nhỏ, tôi đã theo bố ra đồng xem ông gỡ từng quả mìn sót lại. Mẹ hay khóc: “Con gái nhà mình đừng làm việc nguy hiểm, lấy chồng sinh con đi con ơi.” Nhưng tôi vẫn lén thi vào Học viện Kỹ thuật Quân sự, chuyên ngành công binh.
Thành tích gỡ mìn ở Nam Sudan, tiếng Anh lưu loát, tiếng Ả Rập Levant chuẩn xác – tôi là một trong số ít người Việt được chọn từ hơn 1.500 hồ sơ tham gia chiến dịch hỗ trợ phá mìn nhân đạo quốc tế. Trước khi lên đường, đại tá Phong nắm tay tôi: “Em sẽ bị xem thường, Hạnh ạ. Danh dự của màu áo không ai cho, phải tự lấy bằng xương máu.”
Tôi đã chuẩn bị tinh thần. Nhưng không ngờ nỗi đau lại đến sớm và tàn nhẫn đến vậy.
Khi đặt chân xuống căn cứ, nắng như đổ lửa thiêu đốt da thịt. Bộ quân phục dã chiến ướt đẫm mồ hôi sau lưng. Ba lô nặng trĩu dụng cụ dò mìn đè vai tôi đau nhức. Ánh mắt mọi người đổ dồn. Tiếng xì xào bằng tiếng Anh, tiếng Hindi, tiếng Pháp. “Cô gái Việt Nam này tới đây làm gì? Chụp hình truyền thông à?” Một lính Mỹ cao to nhún vai cười khẩy: “Hay là để động viên tinh thần nữ quyền?”
Tôi chỉ cười nhạt, lòng tự nhủ phải chứng minh bằng hành động.
Buổi huấn luyện đầu tiên, một tên lính Mỹ to con vỗ vai tôi, giọng đùa cợt: “Tối nay uống whisky với anh đi, dạy anh vài câu tiếng Việt ngọt như mật.” Cả đám cười ồ lên. Má tôi nóng bừng. Tôi xoay người nhanh như chớp, kẹp cổ tay hắn, quật ngã xuống đất cát chỉ trong một động tác. “Tôi ở đây để làm việc, không phải để đùa giỡn.”
Không khí đông cứng. Đại úy Lộc – tổ trưởng nhóm Việt Nam – bước tới, giọng trầm: “Chuẩn bị di chuyển tuyến A3.”
Tôi biết rõ họ chưa tin tôi. Một cô gái nhỏ bé, cao chưa đầy 1m62, từ Việt Nam xa xôi, làm sao có thể gỡ mìn được? Những lời thì thầm sau lưng tôi nghe rõ mồn một: “Cô ta chắc có quan hệ,” “Đàn bà mà ra tiền tuyến chỉ tổ vướng víu.”
Tôi cố chịu đựng. Mỗi đêm nằm trong lán, tôi nghĩ về bố mẹ ở quê. Tiền lương ít ỏi gửi về, mẹ chắc đang mua thuốc cho bố. Tôi không thể làm họ thất vọng…………..Nhưng chính ngày hôm đó, mọi thứ thay đổi mãi mãi.
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Chúng tôi tiến vào vùng đất hoang nghi có mìn tự chế. Nắng trưa thiêu đốt da thịt, tiếng máy dò mìn kêu tích tích như trái tim đang đếm ngược. Tôi quỳ một gối xuống đất nóng bỏng, mồ hôi chảy ròng ròng vào mắt cay xè. Chiếc máy kêu lạ. Một quả mìn tự chế giấu dưới lớp đất mỏng, dây kích nổ mảnh như sợi tóc.
“Dừng lại hết!” Tôi hét lên.
Một sĩ quan Mỹ chau mày quát: “Cô làm gì? Gọi kỹ thuật viên chuyên nghiệp đi!”
Tôi không nghe. Tay tôi run nhẹ, nhưng ý chí thì sắt đá. Mùi đất ẩm, mùi thuốc nổ thoang thoảng khiến tim tôi thắt lại. Tôi cắn răng, tháo chốt, cắt dây, vô hiệu hóa quả mìn chỉ trong vài phút. Khi ngẩng đầu lên, giọng khàn đặc: “Khu vực an toàn.”
Cả đội im bặt. Một lính Mỹ buột miệng: “Holy shit… cô ta làm được thật…”
Chiều muộn, phục kích ập đến bất ngờ. Tiếng súng AK từ rừng bên trái nổ ran. Đạn bay vèo vèo như ong vỡ tổ. Đội hình bị kẹt giữa bãi mìn và lằn đạn. Tôi hét lớn: “Khói che! Theo tôi!”
Tôi ném lựu đạn khói, dẫn đầu bò sát đất, nhớ từng con đường mòn từ bản đồ tôi đã học thuộc lòng. Một lính Mỹ trượt chân rơi hố mìn, tôi lao đến kéo anh ta lên giữa mưa đạn. “Đứng dậy! Không muốn chết thì theo tôi!” Tay tôi siết chặt cánh tay anh ta, mồ hôi và máu hòa lẫn.
Chúng tôi thoát vòng vây trong gang tấc. Về đến căn cứ, đại úy Lộc vỗ vai tôi, giọng run run: “Tốt lắm, Hạnh.”
Nhưng ngay cửa căn cứ, trung tá Hùng đã chờ sẵn. Cái tát ấy lại vang lên. “Cô tự ý chỉ huy? Cô chỉ là bình hoa truyền thông! Đàn bà thì ở hậu phương, ai cho cô ra tiền tuyến?” Ông quát lớn trước mặt toàn căn cứ.
Đồng đội Việt Nam im thin thít. Đêm ấy trong lán, tiếng thì thầm như dao cắt: “Cô ta có quan hệ nên mới được chọn…” “Làm lính mà toàn gây chuyện…”
Tôi nằm trên giường cứng, má vẫn rát bỏng, nước mắt nóng hổi lăn dài xuống gối mà không thành tiếng. Lòng đau như bị ai bóp nghẹt. Tôi nhớ bố tôi năm xưa bị mìn cắt chân, mẹ ngồi bên giường khóc thầm. Tôi siết chặt tay đến rớm máu. “Mình không đến đây để được khen, mình đến để làm tròn phận lính.”
Sáng hôm sau, tôi bị đình chỉ nhiệm vụ, chuyển xuống hậu cần.
Rồi tiếng nổ kinh hoàng vang lên. Căn cứ bị tấn công dữ dội. Nhóm công binh và lính Mỹ bị kẹt ở cổng chính, mìn nổ liên hồi chặn đường rút, phiến quân áp sát như thủy triều. Tiếng hét, tiếng kêu cứu vọng khắp nơi.
Tôi không thể ngồi yên. Dù bị cấm, tôi lao ra, nhảy lên xe quan sát: “Không còn lệnh nào nữa! Nếu không ai dẫn, họ chết hết!”
Đại úy Lộc nhìn tôi, rồi gật đầu mạnh mẽ: “Tất cả theo trung úy Hạnh!”
Tôi đi đầu, dò mìn từng bước một dưới làn đạn. Một quả mìn nổ chậm dưới chân lính Mỹ – tôi lao đến, hạ gối cắt dây trong gang tấc. Máu từ vai tôi chảy ra vì mảnh đạn, nhưng tôi không buông. Cả đoàn thoát ra an toàn.
Lần thứ hai, tôi cứu họ.
Rồi nhiệm vụ trinh sát tuyến đỏ – khả năng sống sót dưới 30%. Tôi nhận. Lẻn một mình vào vùng phiến quân, báo tọa độ chính xác. Tôi bị bắt, bị đánh đập dã man. Họ nhốt tôi cùng tù binh nước ngoài. Trong bóng tối ẩm mốc, những người từng chế giễu tôi thì thào xin lỗi, giọng run rẩy.
Tôi cắn đứt dây trói bằng răng, siết cổ tên gác, giải cứu từng người một. Dẫn cả nhóm qua đường hầm thoát nước giữa mưa đạn. Máu thấm ướt áo, vai dìu tù binh bị thương nặng, chân tôi đau nhức nhưng tôi không buông tay.
Khi đội giải cứu của đại tá Phong tiếp cận, họ thấy tôi dẫn đầu hơn mười tù binh bước ra từ khói lửa và tro tàn.
“Trung úy Nguyễn Mỹ Hạnh báo cáo: Nhiệm vụ hoàn thành, không ai bị bỏ lại.”
Đại tá Phong nước mắt lưng tròng. Những lính Mỹ từng cười nhạo tôi giờ cúi đầu thật sâu: “Tôi nợ cô mạng sống.” Ánh mắt họ không còn khinh miệt, chỉ còn lại sự kính nể và hối hận sâu sắc.
Tôi về phòng, cầm tờ đề xuất vinh danh trên tay, rồi lặng lẽ đặt xuống bàn. “Tôi không cần huy chương. Chỉ cần mọi người về nhà an toàn với gia đình.”
Giờ đây, ngồi trong lán, nhìn nắng chiều dịu dàng len qua khói lửa tan dần, tôi nghĩ về bố mẹ ở Quảng Nam. Mai tôi sẽ gọi video về, kể một phần chuyện. Không phải để khoe khoang, chỉ để họ biết con gái họ không uổng phí màu áo lính.
Có những lúc bị nghi ngờ, bị tát, bị cô lập, bị oan ức đến mức tim muốn vỡ, nhưng tôi vẫn đứng thẳng. Vì tôi là lính Việt Nam. Không phải để ai công nhận, mà để không hổ thẹn với đồng đội, với bố mẹ, và với chính lương tâm mình.
Cuộc đời lính là vậy. Đau đớn, nhưng đáng giá.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!