Mẹ Campuchia và tượng đài người lính Việt: “Không có bộ đội Việt Nam, chúng tôi ch;ết cả rồi…..

Mẹ Campuchia và tượng đài người lính Việt: “Không có bộ đội Việt Nam, chúng tôi ch;ết cả rồi…..

Tôi là một cựu chiến binh. Tôi đã từng khoác lên mình màu xanh áo lính và bước qua những năm tháng không thể nào quên ở chiến trường Campuchia. Hôm nay, khi ngồi lại với những ký ức xa xôi, tôi không kể cho các bạn nghe về những trận đánh lớn lao, mà là về tình người, về sự hy sinh, và về những người mẹ Campuchia đã khóc tiễn chúng tôi khi chia tay.

Năm 1978, khi đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc, những vết thương vẫn còn đó, thì từ phía Tây Nam, tiếng súng lại nổ lên. Đội quân diệt chủng Pol Pot của Campuchia đã tấn công biên giới Việt Nam, tràn sâu vào nội địa hơn 10 cây số, tàn sát dân thường, đốt phá nhà cửa. Hàng vạn bà mẹ lại tiễn con lên đường. Vết thương chiến tranh còn chưa nguôi, vết thương khác lại đè lên đôi vai đất mẹ Việt Nam.

Chúng tôi – những người lính trẻ – nhận lệnh lên đường. Nhiều người trong số chúng tôi mới chỉ 18, 20 tuổi, vừa rời khỏi những ngày tháng thanh bình ngắn ngủi để bước vào một cuộc chiến mới. Nhưng chúng tôi không đơn độc. Người dân Campuchia đang hấp hối dưới chế độ diệt chủng, họ chờ đợi chúng tôi như chờ đợi những vị thần Phật. Cố vấn hoàng gia Campuchia từng khẳng định trước thế giới: “Trên thế giới này có không biết bao nhiêu kẻ mạnh, người giàu, chỉ có duy nhất anh bạn láng giềng nghèo Việt Nam tới cứu dân tộc ta mà thôi.”

Khi đó, cả thế giới đang nhảy ngược lên tố Việt Nam là tiểu bá, âm mưu chiếm Lào và Campuchia. Mỹ và Trung Quốc họp khẩn, đề nghị Liên hợp quốc cô lập, cấm vận Việt Nam. Trong khi đó, Mỹ ra sức công nhận chính quyền Pol Pot là hợp pháp, bơm tiền súng đạn. Singapore kêu gọi thế giới viện trợ cho Pol Pot. Thái Lan cho Pol Pot mượn đất làm bàn đạp để giải phóng Campuchia khỏi “bè lũ Việt Nam”. Một mặt khác, Trung Quốc điều động hàng chục vạn quân dồn dập tấn công từ Phong Thổ, Lai Châu tới Móng Cái, Quảng Ninh, dài hơn 1.000 km với lý do phản kích tự vệ, nhưng thực chất là để cứu nguy cho Pol Pot. Một lần nữa, thế giới lại đứng nhìn một quốc gia nhỏ bé nhưng bất khuất kiên cường, một mình đứng lên chống lại cả thế giới chỉ vì cứu bạn. Mãi cho đến tận 30 năm sau, bọn chúng mới ghi nhận rằng Việt Nam có công giúp Campuchia hồi sinh và lũ Pol Pot phạm phải tội ác diệt chủng chống lại loài người. Và những người già, người cao tuổi của Campuchia vẫn gọi quân tình nguyện của Việt Nam khi đó với cái tên đầy kính trọng: “Đội quân nhà Phật.”

Tôi nhớ câu chuyện về Nông Chan Phan – một cậu bé Campuchia khi đó mới vài tuổi, bị giam cầm trong nhà tù S21, một địa ngục trần gian nơi hàng ngàn người bị tra tấn và sát hại. Cậu và ba đứa trẻ khác bị tách khỏi mẹ, bị nhốt trong một phòng giam tối tăm, đói khát, và chờ đợi cái chết. Họ nghĩ rằng đó là ngày cuối cùng của mình. Cho đến khi tiếng súng nổ vang, những người lính mặc quân phục xanh xuất hiện. Họ không giống những kẻ khác. Họ mở cửa phòng giam, ôm những đứa trẻ đang run rẩy vào lòng, cho chúng ăn, và đưa chúng ra khỏi đống xác ch;ết bốc mùi.

Nông Chan Phan kể rằng: “Những người lính Việt Nam được thần Phật cử xuống cứu chúng tôi. Họ đã sinh ra tôi lần thứ hai.” Suốt 40 năm sau, mỗi khi gặp người Việt Nam, ông đều chạy lại, nắm tay, và nói bằng giọng nghẹn ngào: “Không có bộ đội Việt Nam thì chúng tôi chết cả rồi.”

Tôi cũng nhớ về bà Vi Ngát, một người phụ nữ Campuchia đã ngoài 80 tuổi. Hàng ngày, dù nắng hay mưa, bà đều đặn đến quét dọn và thắp hương cho tượng đài liệt sĩ Nguyễn Văn Ngộ – một người lính Việt Nam đã hy sinh để cứu một em bé Campuchia khỏi bãi mìn. Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngộ sinh năm 1959 tại Long An. Ngày 1 tháng 5 năm 1979, tại Phum Chó, huyện Romduol, tỉnh Svay Rieng, Trung đội phó Nguyễn Văn Ngộ được tin báo có hai người dân Campuchia bị chết trong bãi mìn do lính Pol Pot gài lại. Anh xung phong nhận nhiệm vụ cùng một tổ gỡ mìn tìm cách đưa xác người dân ra an táng. Khi tiếp cận hiện trường, anh thấy còn có một em bé Campuchia còn sống bị thương đang kêu khóc thảm thiết. Anh nhanh chóng đưa em bé ra khỏi bãi mìn bằng cách mở một lối đi an toàn xuyên qua bãi mìn. Sau khi tháo gỡ hơn 10 quả mìn, bất ngờ một quả phát nổ làm anh bị thương nặng. Nhưng anh vẫn bình tĩnh chỉ huy đồng đội tháo gỡ mìn, động viên chiến sĩ nhanh chóng đưa em bé đi cứu chữa. Anh đã hy sinh vì vết thương quá nặng. Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngộ được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bà làm việc đó không vì tiền, không vì danh vọng, mà vì lòng biết ơn sâu sắc. Bà bảo: “Anh Hùng Ngộ là bộ đội nhà Phật. Anh hy sinh ở đây, linh hồn anh ở đây, và anh sống mãi trong lòng dân làng chúng tôi.” Chồng bà qua đời, nhà nghèo lại đông con, bà đi giúp việc cho một gia đình ngoài chợ xã. Tầm 4 giờ sáng là bà thức dậy, vừa sắp xếp công việc gia đình rồi đến nhặt lá cây rụng, dọn sạch sẽ khu vực tượng đài. Chiều đi làm về, bà tạt qua thắp hương cho anh hùng Ngộ rồi mới đạp xe về nhà. Bà lặng lẽ làm việc này không đòi hỏi bất cứ sự đãi ngộ nào. Bà không nói được tiếng Việt nhưng bà lại nói được rõ ràng đúng một câu: “Anh hùng Ngộ tốt lắm, bộ đội Việt Nam tốt lắm” khi có các đoàn khách đến viếng thăm.

Tôi không bao giờ quên những người mẹ Campuchia đã tiễn chúng tôi khi chúng tôi trở về. Họ chẳng có gì quý cả, chỉ có một tấm lòng biết ơn. Họ dúi vào tay chúng tôi những nắm cơm, những trái dừa, và nước mắt chảy dài trên má. Họ bảo: “Con cầm mấy tấm bánh ăn dọc đường.” Đi khắp đất Campuchia, ở đâu cũng có những người mẹ nhận nuôi, có bao nhiêu cuộc chia tay đẫm nước mắt tình cảm mẹ con. Rồi cả cuộc đời có khi không được gặp lại những người mẹ đó. Nhưng hình ảnh những người mẹ Campuchia vẫn mãi trong lòng người lính Cụ Hồ.

Và rồi tôi nhớ về đồng đội mình – Quang Minh, một chàng trai Hà Nội, người đã nói với hai người bạn trước khi ra trận: “Chuyến đi này ta có cảm giác lành ít dữ nhiều.” Tháng 6 năm 1978, ba chàng trai Hà Nội là Lê Thái Thọ, Quang Minh và Nguyễn Phú Long lên đường nhập ngũ khi tròn 18 tuổi. Nơi họ đến là chiến trường Campuchia. Trước khi ra trận, họ đã lập một lời hứa:………………….

Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

TẠI ĐÂY 👇👇👇

 

trở về dù còn hay mất, dự tính được điều chẳng lành. Quang Minh nói với hai người bạn thân của mình: “Tao có cảm giác chuyến này đi lành thì ít, dữ thì nhiều. Cho nên nếu đứa nào còn sống thì phải có nhiệm vụ ghi nhớ phần mộ và báo về cho gia đình.”

Sự ác liệt của cuộc chiến đã khiến cho rất nhiều người lính không trở về. Liệt sĩ Nguyễn Phú Long hy sinh ngày 27 tháng 5 năm 1978, hiện đang yên nghỉ tại nghĩa trang Trà Võ, Tây Ninh. Còn liệt sĩ Quang Minh, hơn 40 năm qua anh vẫn nằm lại biên giới Campuchia. Người đồng đội của anh là Lê Thái Thọ cùng gia đình đã hết sức tìm kiếm nhưng không có kết quả. Tháng 10 năm 2018, cựu chiến binh Lê Thái Thọ tiếp tục quay trở lại chiến trường Campuchia để tìm người đồng đội năm xưa đã nằm lại nhưng vẫn không thể tìm thấy. Đứng nơi đây tại đất Campuchia nhưng vẫn không thể tìm thấy đồng đội, ông bật khóc: “40 năm nay tao luôn mong đưa được mày về tổ quốc nhưng bây giờ tao không làm được. Không có cách nào tìm được một phần nào đó. Mày ở đâu? Mày cho tao tạ lỗi. Tao không thể đưa mày về được.” Ông gục xuống, khóc nghẹn: “Mày ở đâu? Mày cho tao tạ lỗi. Tao không thể đưa mày về được. Chịu rồi mình ơi!”

Câu chuyện về vụ thảm sát Ba Chúc là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc chiến. Ngày 18 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ tràn vào Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Chúng chặn các ngả đường, dồn dân thường vào trường học và chùa chiền. Trong suốt 12 ngày chiếm đóng, 3.157 đồng bào Việt Nam đã bị gi;ết hại – tất cả đều là dân thường. Trẻ em chúng cũng không tha, phụ nữ Việt bị chúng cưỡng bức rồi giết hại. Nhiều người chạy vào chùa Tam Bửu và chùa Phi Lai ẩn náu, nghĩ rằng ở nơi cửa Phật thì bọn chúng sẽ không ra tay. Nhưng chúng vẫn xông vào chùa, thẳng tay sát hại. Chỉ có ba người sống sót sau vụ thảm sát. Năm 1979, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang đã xây dựng quần thể chứng tích tội ác, nhà mồ của 1.159 đồng bào đã thiệt mạng.

Vụ thảm sát Ba Chúc, cùng với hàng loạt vụ tấn công biên giới khác, đã khiến Việt Nam không thể chịu đựng được nữa. Bộ đội Việt Nam thắt khăn tang trắng, căm giận tiến quân phản công như vũ bão. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, quân đội Việt Nam đã tiến đánh thẳng vào thủ đô Phnom Penh, khiến quân Khmer Đỏ bỏ chạy về phía Tây Campuchia. Chế độ Pol Pot bị lật đổ, và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia được thành lập.

Tôi nhớ trận đánh tại đồn biên phòng Hoa Lư – đồn 717 nằm trên Quốc lộ 13 giáp danh Bình Phước. Gần 2.000 tên lính Pol Pot dồn dập đột kích vào đồn biên phòng bé nhỏ, nơi chỉ có 90 cán bộ chiến sĩ Việt Nam đang canh giữ. Trận đánh day dẳng từ 4 giờ sáng đến tối mịt. Tiếng súng chống cự yếu ớt dần, thưa dần cho tới khuya hôm sau. Từ trong bộ đàm vang lên tiếng gọi thống thiết của vị đồn trưởng: “Chúng tôi sắp hết đạn, địch đang tràn vào sân đồn. Anh em đang đánh rắp lá cà, tình thế nguy ngập rồi.” 10 phút sau cũng tiếng nói ấy: “Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí.”

Tất cả chúng tôi mắt nhòe lệ. Những người lính nghiến răng, quai hàm bạnh ra, mắt trừng trừng như muốn nổ con người. Nhưng là người lính, chúng tôi phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên. Từ hôm đó, những người lính trẻ không còn bông đùa nghịch ngợm nữa. Tất cả như già đi mười tuổi. Chúng tôi ngồi lặng lẽ lau súng, chuốt lại lưỡi lê, không ai bảo ai. Trên vành mũ cối xuất hiện những khẩu hiệu: “Hãy yên nghỉ, hỡi những người anh hùng, những đồng đội yêu quý, chúng tôi sẽ trả thù.”

Ngày tấn công được mòn mỏi trông chờ rồi cũng tới. Chúng tôi ào ạt xông lên tấn công vỗ mặt, tiến sâu, dùi xuyên hông, xẻ sườn phòng tuyến địch, vũ hồi chặn đường chi viện, tháo chạy của chúng. Đội một tổn thất nặng thì đội hai tràn lên như thác lũ. Chúng tôi như dòng thép nóng chảy, tưới vào kẻ thù. Tiếng Chính trị viên sang sảng: “Lũ Khmer Đỏ man dợ, chúng ta đánh cho bọn chúng biết thế nào là khí phách Việt Nam!” Chưa đầy 3 giờ, 2.000 tên đồ tể khát máu Pol Pot đã bị đẩy xuống địa ngục. Trận đánh đó không hề có tù binh. Gần một phần ba trung đoàn tôi hi sinh trong trận đánh mở màn – hơn 800 chàng trai ưu tú của nước Việt nằm xuống ở tuổi đôi mươi.

Hôm nay, tôi kể lại những câu chuyện này không phải để khoe khoang, mà để nhắc nhở chúng ta rằng, có những người lính đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, có những người mẹ Campuchia vẫn ngày đêm thắp hương cho những người lính xa lạ, và có những người bạn đã tìm kiếm đồng đội suốt cả cuộc đời. Đó là tình cảm vượt qua mọi biên giới, và đó là lý do tại sao người dân Campuchia mãi gọi quân tình nguyện Việt Nam bằng bốn chữ đầy kính trọng: “Đội quân nhà Phật.”

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!