Cứu Một Bà Cụ Trong Đêm Mưa, Tôi Chết Lặng Khi Bà Nhìn Vết Bớt Và Gọi: “Nam Ơi, Mẹ Đây!”
Tôi đứng cạnh giường cấp cứu, nước mưa vẫn nhỏ từ tóc xuống nền gạch lạnh. Bà cụ gầy dộc vừa tỉnh, đôi mắt đục ngầu bỗng trố to. Hai bàn tay gân guốc run bần bật túm chặt gấu áo cảnh phục của tôi, vén cổ áo, chọc ngón tay vào vết bớt đỏ sau gáy. Bà khóc nấc rồi thều thào một cái tên mà ba mươi sáu năm qua chưa một ai từng biết: “Nam ơi… Nam con ơi… mẹ đây.”
Tôi sững người. Chiếc vòng gỗ thô sơ trên cổ tôi bị bà nắm chặt như người sắp chết đuối vớ được cọc. “Cái này… ba mươi sáu năm trước… dưới dòng nước lũ… có phải không?”
Tim tôi đập loạn. Không khí trong phòng cấp cứu đặc quánh mùi cồn và máu khô. Tôi muốn đẩy tay bà ra, muốn hét rằng bà nhầm, nhưng cổ họng nghẹn lại. Ba mươi sáu năm tôi mang chiếc vòng ấy như một vết sẹo không lành. Ba mươi sáu năm tôi tự nhủ mình là đứa bị vứt bỏ giữa dòng nước đỏ ngầu, là thứ rác trôi sông mà không ai muốn nhận.
Tôi tên Nguyễn Văn Thành, ba mươi sáu tuổi, thiếu tá cảnh sát hình sự. Từ nhỏ tôi chỉ biết mình là đứa trẻ mồ côi. Bố nuôi tôi, ông Đức, công an xã nghỉ hưu, kể rằng mùa lũ sông Mã năm ấy nước cuồn cuộn. Ông đang tuần tra thì thấy chiếc thúng tre mắc kẹt ở bụi tre gai. Trong thúng, một đứa bé mặt mũi tím ngắt, chỉ có chiếc vòng gỗ đeo cổ và vết bớt đỏ sau gáy. Không giấy tờ, không tên. Ông lôi tôi lên, nuôi tôi như con đẻ trong căn nhà ngói ven đê.
Tôi lớn lên mang theo suy nghĩ hận thù. Người ta đẩy tôi xuống sông không phải bỏ rơi, mà là muốn tôi chết. Mỗi lần mấy đứa trẻ trong xóm chỉ vào sau gáy tôi mà cười “con hoang”, tôi đánh chúng đến chảy máu. Bố Đức không đánh tôi. Ông bắt tôi đứng nghiêm ngoài sân đêm rét, nhìn dòng sông đen ngòm và hỏi: “Mày muốn làm người tử tế hay muốn thành cặn bã?” Chính cái đêm ấy tôi thề sẽ sống cho đàng hoàng, sẽ tìm ra kẻ đã vứt bỏ mình. Tôi học cảnh sát, khoác quân phục, lao vào từng vụ án. Mỗi lần khóa còng vào tay tội phạm, tôi lại nhìn thẳng vào mắt chúng, tìm xem có sót lại chút lương tri nào giống kẻ đã đẩy tôi xuống sông không. Mười bốn năm, ngực đầy huy chương, sẹo ngang dọc, nhưng thân phận thật của mình vẫn mù tịt.
Đêm mưa phùn đầu đông năm tôi ba mươi sáu tuổi, sau ba ngày truy bắt ma túy trên rừng biên giới, người mệt dã rời, tôi lái xe về. Đường vắng, đèn pha quét qua gốc xà cừ. Một đống nilon cựa quậy. Tôi đạp phanh cháy đường, chạy xuống dưới mưa. Bà cụ cuộn tròn trên nắp cống, áo phao thủng lòi bông, môi tím ngắt, tay vẫn ôm khư khư chiếc túi vải bẩn dù đã bất tỉnh. Tôi bế bà lên xe. Người bà nhẹ chưa tới ba mươi lăm cân, lạnh như tảng đá. Tôi phóng thẳng bệnh viện, miệng cứ lẩm bẩm: “Cố lên bà ơi…”
Ở cấp cứu, khi tôi cúi đút nước ấm, vòng gỗ trượt ra ngoài. Bà cứng đờ, vồ lấy, kéo cổ tôi sát mặt. Rồi bà lật cổ áo, nhìn thấy vết bớt, ôm chặt tôi, gào lên một tiếng xé ruột: “Nam ơi, mẹ Hạnh của con đây! Con tôi còn sống!”
Tôi vùng ra, gọi bác sĩ tiêm an thần. Lý trí của thằng lính hình sự không cho phép tin. Tôi cắt tóc bà, cắt tóc mình, mang đi giám định ADN trong đêm. Mười tiếng đồng hồ sau, tờ giấy kết luận đập vào mắt: xác suất 99,99%, quan hệ mẹ con.
Tôi chạy về phòng bệnh, quỳ sụp xuống nền gạch, đặt tờ giấy lên đệm: “Mẹ… mẹ ơi.”
Bà khóc xé ruột, ôm lấy tôi. Lưng bà chỉ còn xương. Ba mươi sáu năm tôi mới biết hơi ấm của mẹ ruột là gì. Nước mắt tôi chảy xuống cổ bà, nóng hổi. Trong khoảnh khắc ấy, mọi lớp giáp sắt tôi đắp lên người suốt bao năm bỗng vỡ vụn.
Khi bình tĩnh, tôi hỏi khẽ: “Tại sao mẹ lại thả con xuống sông?”………….
……………………………………………
Bà mở túi vải, lấy ra tấm ảnh đen trắng mốc meo và giấy kết hôn. Người đàn ông trong ảnh giống tôi như lột. “Đây là bố con, Nguyễn Văn Lâm. Bố làm chủ xưởng gỗ lớn nhất vùng ven sông Mã. Bố thương thợ, bao dung hết mực. Nhưng chú con, thằng Cường, ham chơi, cờ bạc. Bố cho tiền trả nợ mãi. Cường không muốn nửa xưởng, nó muốn tất cả.”
Bà kể cận Tết, gỗ quý bị mất. Bố rình bắt quả tang Cường chỉ đạo lấy gỗ. Bố tát nó lần đầu tiên trong đời, dọa báo công an. Đêm bão lớn, mất điện. Cường dẫn giang hồ đạp cửa, đòi sổ đỏ, đòi sang tên xưởng. Bố chống cự. Chúng đè bố xuống. Cường nhặt tuýp sắt, phang một nhát sau gáy. Máu lan lênh láng trên nền gạch hoa. Bố nhìn về phía khe cửa nơi bà đang ôm tôi, mắt mở trừng rồi từ từ dại đi.
Chúng kéo xác bố ra nhà kho, đào hố chôn, tưới xăng đốt nhà. Bà đập cửa sổ, bế tôi nhảy xuống vườn chuối ngập bùn. Cường phát hiện, gào lên: “Diệt cỏ phải nhổ tận gốc!” Bà chạy đến bờ sông Mã nước lũ cuồn cuộn. Hết đường. Bà thấy chiếc thúng mắc kẹt, lót áo, đặt tôi vào, đeo vòng gỗ của bố vào cổ tôi, hôn lên trán lần cuối: “Nam ơi, mẹ xin lỗi con. Thà phó thác cho trời còn hơn rơi vào tay quỷ.” Rồi đẩy thúng ra dòng nước, cố tình hét to để chúng đuổi theo bà, bỏ qua mặt sông.
Bà bị đánh ngất, xích chân trong nhà kho trên núi mười lăm năm. Cơ hội trốn chạy đến khi tên gác say rượu quên khóa. Bà về làng, thấy xưởng đã thành công ty của Cường, hai ngôi mộ giả khắc tên bố mẹ tôi. Không chứng cứ, bà lang thang hơn hai mươi năm dọc sông Mã, bới rác, ngủ gầm cầu, ôm túi vải có ảnh bố và núm vú cao su cũ, lén nhìn sau gáy từng thanh niên, bị xua đuổi mãi cho đến đêm mưa tôi nhặt bà lên.
Tôi nắm tay bà, giọng nghẹn: “Con sẽ lôi nó ra ánh sáng.” Ngay lúc ấy, tiếng bước chân ngoài hành lang. Tôi tắt đèn, rút súng. Một gã mặc áo blouse bác sĩ nhưng quần bò, giày cá sấu, cầm xi-lanh chứa chất vàng khè định tiêm vào đường truyền của mẹ. Tôi khống chế, còng tay. Điện thoại hắn có tin nhắn của Bảy Sẹo, tay sai Cường: “Tiêm xong phải chắc chắn mụ già ngừng thở.”
Tôi báo đội trọng án. Giám đốc công an tỉnh cho phép tôi tham gia với vai trò cố vấn. Chúng tôi lục hồ sơ cháy xưởng năm 1990: kết luận chập điện, xác thiêu thành tro. Nhưng xương người không cháy hết ở nhiệt độ ấy. Lời mẹ và lời ông Ba thợ cả còn sống khớp nhau: xác bố bị bọc nilon, chôn dưới nhà kho, đổ xi măng.
Đêm mưa phùn, chúng tôi phong tỏa công ty Cường, khoan bê tông hai lớp cốt thép. Gầu máy xúc cạp xuống gần hai mét, lộ tấm bạt xanh rách. Dưới ánh đèn pin, xương ống chân, xương sườn, rồi hộp sọ ố vàng. Pháp y khẳng định: vết lún vỡ sau gáy do vật tày đập mạnh, chết trước khi chôn, không bị lửa thiêu. Tôi quỳ trong hố bùn, nhìn hộp sọ của bố, không khóc được. Chỉ cảm thấy máu trong người sôi lên.
Cường đã bỏ trốn. Chúng tôi truy đuổi trên quốc lộ lên vùng biên. Xe hắn đâm barie, lao vào đoạn đường sạt lở. Hắn nhảy xuống triền đồi, ôm ba lô tiền chạy về phía sông Mã nước lũ. Tôi đuổi theo, gai rừng cào mặt ứa máu. Đúng khúc sông năm xưa, hắn định tháo thuyền vượt sông. Chúng tôi bao vây. Hắn rút dao đâm. Tôi bẻ tay, khống chế, còng lại. Tôi vạch cổ áo, đưa vòng gỗ sát mặt hắn: “Thằng bé trong thúng chưa chết. Hôm nay chính tay nó còng mày để đòi mạng bố.”
Hắn nhìn vết bớt, run bần bật, khóc thét: “Nam ơi… chú sai rồi…”
Tôi bàn giao hắn, phóng về bệnh viện. Bác sĩ nói mẹ bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối, từ chối morphine vì muốn đợi con. Tôi nắm tay bà: “Mẹ ơi, xong rồi. Con bắt được Cường. Bố đã được minh oan.” Bà mỉm cười, vuốt vết bớt sau gáy tôi bằng ngón tay lạnh: “Mẹ tự hào về con lắm. Mẹ mãn nguyện rồi.” Rồi bà gọi tên bố: “Ông Lâm ơi, con mình về rồi… tôi yên tâm về với ông đây.” Máy đo nhịp tim kéo thành đường thẳng.
Tôi ôm thân hình nhẹ bỗng của mẹ, khóc đến khản tiếng. Ba mươi sáu năm tìm nhau, thời gian được gọi một tiếng mẹ chỉ đếm bằng vài giờ ngắn ngủi.
Vài ngày sau, tôi đập bỏ hai ngôi mộ giả, chôn cất bố mẹ cạnh nhau bên bờ sông Mã. Chiều hôm ấy trời hửng nắng. Tôi quỳ trước hai nấm mộ mới, thắp hương. Gió chiều thổi. Dòng sông êm đềm chảy. Chiếc vòng gỗ vẫn đeo trên cổ tôi, lạnh và nặng. Có những khoảng cách ba mươi sáu năm chỉ khép lại được trong vài giờ, rồi lại mở ra thành khoảng lặng dài dằng dặc bên hai ngôi mộ, nơi tôi ngồi rất lâu mà không biết phải nói thêm điều gì nữa.





