Chồng Đi Angola 5 Năm Gửi Về 1,68 Tỷ – Ngày Trở Về, Anh Chết Lặng Khi Thấy Vợ Ăn Cơm Nguội Dưới Bếp….
Chiếc thìa tuột khỏi tay tôi, rơi xuống nền gạch kêu một tiếng khô khốc. Tôi quay lại, và giữa căn bếp tối ám khói, người đàn ông đứng ở cửa đang nhìn bát cơm nguội của tôi như nhìn một vết thương hở. Là Hưng. Năm năm trời tôi chỉ nghe giọng anh qua điện thoại, vậy mà lúc này tôi lại không dám tin vào mắt mình.
“Anh… anh Hưng? Sao anh về mà không báo?”
Anh không trả lời. Anh nhìn lớp cơm vét sát đáy nồi, nước rau loãng, miếng đậu phụ sót lại ở góc đĩa, rồi nhìn xuống đôi bàn tay nứt nẻ của tôi. Trên nhà, tiếng cười của em chồng vẫn vọng xuống, lẫn tiếng chén đũa lách cách và mùi gà luộc thơm lừng. Tôi vội kéo bát cơm giấu sang một bên, như đứa trẻ bị bắt quả tang làm điều xấu hổ.
“Em ăn thế này à?”
“Em ăn muộn thôi, trên nhà đông khách.”
Anh hạ giọng, và câu anh hỏi tiếp khiến tôi lạnh sống lưng: “Tiền anh gửi về, em đang giữ bao nhiêu?”
Tôi chớp mắt. “Tiền nào ạ?”
Mặt anh tái đi. “Một tỷ sáu trăm tám mươi triệu, Lành. Năm năm nay anh gửi về đúng từng ấy.”
Môi tôi mấp máy mà không thành tiếng. Một tỷ sáu trăm tám mươi triệu. Tôi chưa từng nghe con số ấy, chưa từng được cầm một đồng nào trong đó. Trên nhà, em chồng cười giòn tan. Dưới bếp, tôi có cảm giác mình vừa bị ai đó kéo ra khỏi một giấc ngủ dài đầy bùn lầy.
Để hiểu vì sao tôi nghẹn đến thế, phải quay về mười một năm trước.
Ngày ấy tôi về làm dâu một nhà nghèo, chỉ với chiếc vali nhỏ và ký ức về cha mẹ đã khuất. Mẹ chồng tôi, bà Sâm, từng bênh tôi trước họ hàng: “Nó mồ côi thì càng phải thương.” Đêm đó tôi nằm quay mặt vào tường khóc, vì đã lâu lắm mới có người che chở mình như mẹ ruột. Tôi đã tin đây sẽ là nhà của mình.
Rồi việc làm ăn của vợ chồng tôi đổ vỡ. Năm 2009, món nợ năm trăm ba mươi triệu đè lên vai Hưng như tảng đá. Ông Bình bên Angola nhận anh sang làm, nhưng trong nhà chẳng còn đồng nào lo vé. Tôi lấy từ hòm gỗ tập giấy tờ mảnh đất cha mẹ để lại. Anh giằng lại: “Đó là thứ cuối cùng bố mẹ để cho em.” Tôi đáp: “Đất còn mà người mất đường đứng dậy thì giữ để làm gì?” Mảnh đất được bảy trăm sáu mươi triệu. Năm trăm ba mươi trả nợ, một trăm mười lo cho anh lên đường, một trăm hai mươi tôi giữ lại cho mẹ và Oanh. Hôm tiễn anh đi, tôi đứng ở cổng, trong túi còn tờ biên nhận gấp tư, nhìn chiếc xe khuất dần trong sương sớm.
Tiền anh gửi về đều vào tài khoản của mẹ. Chính tôi bảo anh làm thế, vì mẹ có sổ, còn tôi ít khi ra huyện. Lúc đầu mẹ còn gọi tôi ghi từng khoản, nói “tiền của vợ chồng con, mẹ chỉ giữ hộ”. Cho đến khi Oanh bỏ học nghề, đòi mở tiệm áo cưới. Một hôm tôi thấy người ta khiêng hai chiếc gương lớn vào nhà. Tôi hỏi tiền ở đâu, mẹ đặt chén nước xuống: “Tiền để mẹ giữ. Nhà cần gì thì nói mẹ.” Chỉ một câu, hai chữ “giữ hộ” đã thành hai chữ “mẹ giữ”. Sau này tôi mới biết, trong một cuộc gọi vội giữa kho hàng ồn ào, Hưng từng nói: “Mẹ cứ giữ giúp con.” Câu nói vô tình ấy, mẹ coi như được trao quyền.
Rồi đến vụ bốn mươi triệu. Mùa hè năm 2013, mẹ nhờ tôi vào tủ lấy thuốc huyết áp. Hôm sau, túi vải trong tủ mất sạch bốn mươi triệu. Oanh đứng sau lưng mẹ, nói nhỏ: “Con thấy chị Lành mở tủ.” Mẹ không báo công an, nhưng một câu than thở ở đám giỗ chạy nhanh hơn cả xe máy. Chẳng bao lâu, ngoài chợ người ta kéo túi tiền sát vào người khi tôi đi qua. Có người đếm lại tiền công ngay trước mặt tôi. Nghèo tôi chịu được, mệt tôi chịu được, nhưng bị nhìn như kẻ lấy trộm, trong khi chính tôi từng bán đất cha mẹ để cứu cái nhà này, thì đau hơn bất cứ bữa cơm nguội nào. Chỉ có bà Quý hàng xóm nói: “Bác không tin cháu lấy.” Một câu thôi mà tôi khóc cả đêm.
Tiền tôi giữ lại cạn dần như nước trong chum giữa mùa hanh. Tôi ra đồng cấy thuê, gặt thuê, bán mớ rau, phụ nấu cỗ. Tôi ghi từng khoản vào cuốn sổ bìa xanh, một trăm bốn mươi nghìn tiền cấy, sáu mươi hai nghìn tiền rau, vì sợ lại có người hỏi tiền đi đâu. Có hôm tôi ngã xuống ruộng sưng cổ chân vẫn về nấu cháo cho mẹ. Có hôm sốt gần bốn mươi độ, tôi tự nằm co trong bếp. Một chiều đi gặt về, Oanh sai tôi đi chợ mua bia cho bạn, mẹ bảo: “Làm chị thì nhường em.” Tôi nói: “Con đi gặt từ năm giờ sáng.” Mẹ im một lúc rồi đáp: “Nhà có chị có em, giúp nhau thì mất gì.” Cuối năm 2014, mẹ lại buột miệng: “Người ngay thì sợ gì bị nghi.” Tôi xách túi quần áo sang nhà bác Mến ở ba ngày. Rồi bà Quý đạp xe tới báo mẹ nhập trạm y tế vì huyết áp tăng. Tôi vẫn quay về, không phải vì quên, mà vì Hưng ở xa. Tối ấy tôi nói với mẹ: nếu một ngày sự thật được tìm ra, con cần mẹ trả lại danh dự cho con.
Còn Hưng, mỗi lần gọi chỉ hỏi: “Nhà có thiếu tiền không?” Tôi đáp: “Ổn anh ạ.” Tôi nghĩ giấu là thương anh. Anh nghĩ hỏi thế là đủ.
Đêm ấy Hưng không quát. Anh bước lên nhà chính, bảo Oanh tiễn bạn ra về, rồi đặt xấp chứng từ xuống bàn. Bà Sâm nhíu mày, Oanh đứng sau lưng mẹ. “Năm 2010, ba mươi sáu triệu. 2011, một trăm lẻ tám triệu. 2012, hai trăm mười sáu triệu…” Anh đọc đến “tổng cộng một tỷ sáu trăm tám mươi triệu” thì căn phòng im phăng phắc. Bà Sâm đập tay xuống bàn: “Chính mày bảo tao giữ!” Anh im lặng một nhịp, rồi nói: “Con nhớ. Con cũng có lỗi, vì quá chủ quan.” Sau đó anh quay sang em gái, giọng rất chậm: “Còn bốn mươi triệu năm 2013 thì sao?”
Chiếc cốc trong tay Oanh bắt đầu run.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Hưng không ép ai. Anh gọi người thợ từng sửa nhà đối chiếu từng đợt thanh toán: sửa nhà, làm cổng, lát sân hết năm trăm hai mươi triệu. Sinh hoạt chung một trăm tám mươi triệu. Sổ tiết kiệm còn ba trăm triệu. Mẹ tiêu thiếu kiểm soát một trăm sáu mươi triệu. Oanh nhận bốn trăm tám mươi triệu. Cộng với bốn mươi triệu còn tranh cãi, vừa đúng một tỷ sáu trăm tám mươi triệu. Không có đồng nào biến mất. Tiền chỉ chảy đi từng chút một, năm này qua năm khác, trong lúc không ai thấy cần phải hỏi tôi.
Tối ấy, anh tìm thấy cuốn sổ bìa xanh trong ngăn tủ của tôi. Anh lật từng trang, toàn những khoản vài chục nghìn mà trước kia một bữa tiếp khách anh còn chẳng nhớ. Anh nhìn tôi rất lâu: “Anh sẽ làm rõ chuyện bốn mươi triệu.” Tôi nói: “Anh đừng ép ai nhận chỉ để bênh em.” Anh đáp: “Anh chỉ cần biết nó đã đi đâu.”
Anh lần theo sổ cũ của tiệm áo cưới, tìm ra người chủ hàng ở thành phố Nam Định. Bà lật cuốn sổ nợ, ngón tay dừng lại ở một dòng: “Đây, cô ấy trả đủ bốn mươi triệu, đúng hai ngày sau hôm nhà anh mất tiền.” Anh chụp lại trang sổ. Chiều đó, khi bản chụp đặt trước mặt Oanh, mặt em chồng tôi trắng bệch. “Em vay người khác.” “Ai?” Oanh không nói được. Anh hỏi thêm lần nữa, và Oanh bật khóc: “Là em lấy. Người ta thúc nợ, em sợ mẹ biết… Em thấy chị mở tủ nên nói bừa.”
Mẹ chồng chết sững. Tôi không tát, không mắng, chỉ quay sang nhìn bà: “Mẹ còn nhớ mẹ nói gì không? Người ngay thì sợ gì bị nghi. Con đã sợ suốt hai năm, không phải vì con có tội, mà vì người ta tin con có tội.” Mẹ cúi đầu, lần đầu tiên không còn một câu nào để chống chế.
Tưởng thế là hết. Hai hôm sau, ông Nghiêm, bạn cũ của cha Hưng, tìm đến nhà, đặt lên bàn tờ giấy vay một trăm hai mươi triệu mang tên Trịnh Văn Hưng. Chữ ký rất giống anh, nhưng Hưng chỉ nhìn một cái đã nói: “Không phải chữ của cháu.” Oanh đã cầm bản sao hộ chiếu và giấy chuyển tiền cũ, bảo anh trai cần gấp để đặt hàng trong nước. Mẹ chồng vội quay sang con trai: “Hưng, trả cho chú đi, một trăm hai mươi triệu với con bây giờ có đáng gì.” Hưng nhìn mẹ: “Chính câu đó mới đáng sợ. Em ấy đã quen nghĩ làm sai rồi sẽ có người trả thay.” Vợ chồng tôi ứng phần thiếu để ông Nghiêm khỏi thiệt, nhưng ghi rõ đó là khoản Oanh phải hoàn lại. Ông vẫn trình báo. Việc xác minh kéo dài nhiều tháng, rồi Oanh phải nhận một bản án.
Ngày nghe kết quả, mẹ chồng gần như khuỵu xuống. Oanh quay lại nhìn mẹ, lần này không còn kêu cứu. Đêm ấy mẹ khóc đến kiệt sức, nói bà tưởng mình thương con, hóa ra bao năm chỉ là bao che.
Một chiều, Hưng đặt trước mặt tôi giấy tờ một căn nhà gần trung tâm: “Anh muốn bù cho em.” Tôi hỏi khẽ: “Anh định dùng bao nhiêu tiền để mua lại năm năm của em?” Anh im lặng. Tôi kể cho anh nghe cú ngã xuống ruộng, đêm sốt co ro trong bếp, chiếc nhẫn người ta mất mà không nói thẳng là nghi mình, chỉ giữ tôi lại để kiểm tra túi. Rồi tôi hỏi: “Anh có nhớ lần cuối anh hỏi em có mệt không là khi nào?” Anh ngồi bất động, bàn tay siết chặt. Tôi cũng nói thật phần của mình: tôi đã giấu anh, gọi đó là hy sinh, mà nhịn đến mức người khác không biết mình đau thì cũng là một cái sai. Anh nói: “Cho anh học lại cách làm chồng.” Tôi chỉ đáp: “Em đồng ý ra ở riêng. Không phải tha thứ, chỉ là một cơ hội.”
Chúng tôi thuê căn nhà nhỏ gần thị trấn, chiếc giường cũ, bộ bàn ghế gỗ, căn bếp vừa đủ hai người xoay sở. Tiền bạc từ đó hai người cùng bàn. Anh không còn nói “anh gửi rồi, em hỏi mẹ”, mà nói “khoản này mình xem lại nhé”. Mẹ ở lại căn nhà hai tầng với những cơn đau đầu, những bữa cơm một mình, và chẳng còn ai nhắc bà uống thuốc. Một buổi giỗ họ, có người nhắc: “May mà giờ nhà bà Sâm yên, hồi ấy nghe nói con Lành lấy tiền.” Mẹ đặt chén xuống: “Không phải. Là con Oanh nhà tôi lấy. Tôi nghi oan con dâu.” Tối đó bà Quý sang kể lại cho tôi. Mấy tuần sau, mẹ xách túi gạo, ít rau cải và mấy quả trứng gà trong vườn đến cửa nhà thuê: “Mẹ vào được không con?” Tiếng “con” ấy khiến tôi khựng lại. Mẹ nói bà không dám xin tôi quên. Tôi không nói tha thứ, chỉ nói: “Mẹ ở lại ăn cơm.”
Cuối năm, Hưng chở tôi về xã cũ. Mảnh đất của cha mẹ tôi giờ đã có một gia đình khác xây nhà. Trước sân dựng chiếc xe đạp trẻ con, ngoài hiên phơi mấy bộ quần áo nhỏ xíu. Anh từng hứa sẽ mua lại. Hôm ấy anh đứng nhìn rất lâu rồi lắc đầu, người ta đang sống yên ổn, không thể vì lời hứa của anh mà làm xáo trộn họ. Tôi nhìn mái nhà cũ đã đổi khác hoàn toàn. “Em không tiếc đất,” tôi nói. “Em tiếc mấy năm vừa rồi.” Anh không đáp. Gió chiều lùa qua hàng cau, nghe như tiếng ai gọi từ rất xa.
Tối ấy, anh gắp miếng cá kho sang bát tôi rồi hỏi: “Hôm nay em có mệt không?” Tôi nhìn anh, cười, mắt đỏ lên mà lần này không quay đi giấu. Có những điều người ta kịp sửa, và có những điều chỉ còn lại để nhớ: một mảnh sân cũ, một bát cơm nguội dưới góc bếp, và quãng thời gian không đất nào mua lại được.





