Tôi Đi Công Tác 3 Tháng, Ngày Trở Về Không Thấy Vợ Đâu – Đến Miếu Hoang, Tôi Chết Lặng Khi Thấy Cô Ấy Ôm Hộp Cơm Nguội

Tôi Đi Công Tác 3 Tháng, Ngày Trở Về Không Thấy Vợ Đâu – Đến Miếu Hoang, Tôi Chết Lặng Khi Thấy Cô Ấy Ôm Hộp Cơm Nguội

“Anh Trọng, em không ăn trộm đâu. Cơm này người ta bỏ rồi, em mới dám nhặt. Anh đừng nói với mẹ, mẹ lại đuổi em đi mất.”

Hà ngồi co ro bên bức tường ẩm mốc của ngôi miếu hoang, bụng bầu gần tám tháng, tay run run xúc từng thìa cơm nguội trong chiếc hộp nhựa nứt. Thấy tôi bước tới, cô ôm chặt hộp cơm vào lòng như sợ ai giật mất, nước mắt lăn xuống đôi má hóp lại. Mưa rơi lộp bộp trên những viên ngói vỡ. Ngoài cổng, trong túi xe, bộ quần áo sơ sinh màu vàng nhạt tôi mua cho con vẫn còn thơm mùi vải mới. Tôi quỳ sụp xuống, đưa tay định ôm vợ. Cô né đi, hai tay giơ lên che đầu.

Tôi là Đức Trọng, ba mươi sáu tuổi, đại úy công an. Bố mất khi tôi mười hai, mẹ một mình nuôi tôi khôn lớn, nên trong lòng tôi, bà gần như là điều thiêng liêng không thể nghi ngờ. Ba tháng trước, tôi nhận nhiệm vụ dài ngày ở vùng xa và để Hà, lúc ấy đang mang thai, ở lại với mẹ. Sáng lên đường, Hà níu tay áo tôi, bảo đêm qua cô mơ thấy mình đứng giữa cánh đồng tối, gọi mãi mà chồng không quay đầu. Tôi bật cười, xoa bụng vợ. Cô hỏi nhỏ: “Anh Trọng, nếu một ngày mẹ hiểu lầm em chuyện gì, anh có chịu nghe em giải thích không?” Tôi đáp ngay rằng mẹ là người hiểu chuyện, làm gì có chuyện ấy. Bây giờ nhớ lại, tôi chỉ muốn quay về tát vào mặt chính mình.

Những cuộc gọi về ngắn dần. Giọng Hà mệt, cô bảo chắc do nghén. Tôi hỏi tiền để lại có đủ không, cô im vài giây rồi nói vẫn đủ. Phía sau lưng cô, tôi nghe tiếng mẹ ho khẽ, gần như đứng ngay cạnh. Rồi điện thoại của Hà không gọi được nữa. Mẹ bảo máy hỏng, mang đi sửa. Vài hôm sau bà đổi lời: Hà về bên ngoại nghỉ ngơi. Tôi sững người, bởi bố mẹ vợ đã mất từ lâu, người thân duy nhất của cô là một người dì ở tận miền Trung. Mẹ gắt lên: người lớn đi đâu cũng phải báo với con hay sao? Tôi nuốt nỗi bất an xuống tận đáy lòng. Đó là sai lầm đầu tiên của tôi.

Chiều cuối tháng chín, tôi về đến cổng, tay xách túi bánh Hà thích. Không thấy đôi dép của cô. Chậu hoa cô vẫn chăm đã khô queo, trên dây phơi không còn một chiếc áo bầu nào. Mẹ từ bếp bước ra, mừng rỡ, nhưng khi tôi hỏi Hà đâu, mặt bà tối sầm. Bà kéo tôi vào nhà, đóng cửa, khóc rằng Hà đã bỏ đi gần một tháng, rằng cô có người đàn ông khác. Tôi hỏi đã báo cho ai, đã tìm ở đâu, bà bảo sợ ảnh hưởng nhiệm vụ của con. Rồi bà cúi mặt, thốt ra một câu khiến tôi lạnh buốt: “Có chắc đứa bé ấy là con của con không mà con còn lo?” Tôi đứng giữa gian nhà quen thuộc, nhìn người đã sinh ra mình mà thấy bà xa lạ như một người dưng.

Đêm ấy tôi mở tủ tìm giấy khám thai, quần áo của Hà. Gần như chẳng còn gì. Một người phụ nữ giữ cả những lá thư tôi viết thời yêu nhau, từng khóc vì hạnh phúc khi biết có con, sao lại có thể lặng lẽ bỏ đi như thế? Tôi ngồi bên cửa sổ đến sáng, và nỗi sợ lớn dần. Không phải sợ bị phản bội, mà sợ rằng có điều gì khủng khiếp đã xảy ra trong lúc tôi vắng mặt.

Sáng hôm sau, bà Tư, người nhặt ve chai đầu làng, nhìn tôi ngập ngừng rồi hạ giọng: mấy hôm nay ở cái miếu bỏ hoang cuối đồng có một người đàn bà bụng bầu rất lớn, ngày nào cũng ra sau chợ xin thức ăn người ta bỏ lại. Bà không dám chắc vì người ấy gầy quá, nhưng từng nghe cô nhắc tên chồng là Trọng. Hai chân tôi mềm nhũn. Tôi phóng xe ra con đường đất, chỉ cầu mong bà nhận nhầm người.

Không nhầm. Tôi bế Hà lên xe, đưa vào bệnh viện huyện. Suốt đường đi cô nắm tay áo tôi, giật mình mỗi khi xe xóc, thì thầm: “Đừng đưa em về nhà, em không dám về đâu. Mẹ bảo nếu em còn bước chân vào, em sẽ không bao giờ được gặp con nữa.” Tay tôi siết chặt vô lăng. Bác sĩ nói cô suy dinh dưỡng, thiếu máu, mất nước, tim thai vẫn còn nhưng phải theo dõi sát. Ông hỏi sao để người mang thai đến mức này mới đưa đi khám. Tôi cúi đầu, không có lời nào để đáp.

Đêm ấy, Hà kể từng chuyện. Mẹ giữ hết tiền, bảo đàn bà bầu không biết tính toán. Một hộp sữa cũng phải giải thích vì sao cần mua. Thịt cá ngon được gắp riêng vào chiếc bát có nắp, còn cô ăn cơm nguội với rau luộc. Có hôm họ hàng đến chơi, bát cơm ăn dở của cô bị bưng xuống đặt cạnh chậu rửa. Bà còn nói trước hàng xóm rằng đứa bé chưa chắc là máu mủ nhà này. Tôi nghe mà nhớ lại những bữa cơm mình từng ăn no, bên cạnh một người vợ lặng lẽ gỡ xương cá cho chồng rồi đặt đũa xuống thật sớm. Khi ấy tôi nghĩ vợ mình ăn ít. Tôi chưa từng hỏi vì sao.

Rồi giọng Hà nhỏ đi. Cô nói mọi thứ đổi khác từ chiều mười bảy, hôm trời mưa lớn, mái hiên sau dột. Cô vào gian buồng cũ của bố lấy chậu hứng nước, thấy ngăn kéo dưới cùng của chiếc tủ gỗ không khóa, bên trong có một phong bì màu vàng. Tối ấy, nhìn thẳng vào bụng cô, mẹ nói: “Có những thứ không thuộc về mình thì đừng động đến, kẻo mang họa cho đứa trẻ chưa chào đời.”

Hà nắm chặt cổ tay tôi. “Anh Trọng, trong phong bì có một tờ giấy cũ ghi tên bố, và ở dưới cùng là chữ ký mang tên anh, đề ngày tháng lúc anh mới mười bốn tuổi. Em hỏi mẹ vì sao, mẹ tát em rồi đuổi ra khỏi buồng.”

Mười bốn tuổi. Khi ấy tôi còn ngồi ghế nhà trường, chưa từng ký một tờ giấy nào ngoài vở bài tập.

……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

TẠI ĐÂY 👇👇👇

Nhưng đó mới là phần nhẹ nhất. Hà kể tiếp về đêm cô bị đuổi. Mẹ đặt trước mặt cô một chiếc túi vải, bên trong có chiếc áo sơ mi đàn ông và một mảnh giấy viết toàn lời tình cảm, thứ mà cô chưa từng thấy bao giờ. Bà đập bàn, gọi đó là bằng chứng, rồi ném quần áo của cô ra sân, giữ lại điện thoại, giấy tờ, cả tiền. Hà quỳ xin được ở lại đến ngày sinh. Cánh cổng sắt khóa lại trong tiếng mưa. Cô gõ ba lần. Lần thứ ba, mẹ chỉ ném ra một chiếc áo mưa rách vai. Tiếng khóa sắt vang lên khô khốc, đến giờ cô vẫn nghe thấy trong những cơn ác mộng. Cô gõ cửa hai nhà quen, người ta thương nhưng sợ lời dị nghị, không ai cho ngủ nhờ. Cuối cùng cô lần ra ngôi miếu cuối đồng.

Ở đó, khi lấy chiếc áo khô ra trải xuống nền gạch, cô thấy trong túi có một chiếc chìa khóa đồng buộc sợi chỉ đỏ đã cũ, kèm mảnh giấy nét chữ run rẩy: đừng quay về nhà, hãy giữ thứ này nếu muốn biết chuyện của bố Trọng. Cô giấu nó vào lớp vải lót chiếc áo bầu. Tôi lật chiếc áo trong túi đồ cá nhân ở bệnh viện. Đường chỉ đã bị tháo, bên trong trống rỗng.

Đúng lúc ấy điện thoại tôi đổ chuông. Là mẹ. Bà không hỏi Hà có sống không, cũng không hỏi cháu nội có khỏe không. Giọng bà căng như dây đàn: “Nếu con đã gặp con Hà, đừng tin thứ gì nó đưa, nhất là chiếc chìa khóa đồng buộc chỉ đỏ.”

Tôi đứng chết lặng. Làm sao mẹ biết trong túi Hà có chiếc chìa khóa?

Hôm sau tôi về nhà. Mẹ ngồi cạnh bàn thờ bố, chén nước chè còn bốc khói, sân quét sạch đến lạnh người. Tôi hỏi sao bà biết vợ tôi ở miếu hoang mà không đưa về. Bà khóc, kể những mùa đông đi chợ từ ba giờ sáng, những đêm thức trắng khi tôi sốt, rồi quỳ xuống trước di ảnh bố, bắt tôi hứa đừng đưa Hà về, đừng nhắc đến chiếc tủ. Nước mắt ấy tôi đã thấy suốt đời, nhưng lần này nó không còn làm tôi mềm lòng. Tôi nói: “Con không chọn bỏ ai. Con chọn sự thật.” Bà hất tay tôi ra: “Từ nay coi như mẹ không có con trai.”

Bước ra cổng, ông Bảy hàng xóm gọi giật lại. Ông nói đêm Hà bị đuổi, ông thấy một người đàn ông xách cặp da nâu đi ra bằng cửa sau, rất giống Phạm Văn Khải, người từng làm ăn với bố tôi hơn hai mươi năm trước.

Tôi lần theo từng mảnh. Đoạn camera ở chợ cho thấy Hà lùi lại, giật tay ra khi người đàn ông áo xám túm cổ tay cô, rồi ông ta ngoái nhìn về phía quán nước như chờ một tín hiệu. Bà Tư thấy mẹ tôi đứng bên kia đường, gọi người đến xem. Bà Duyên, người họ hàng xa, run rẩy mở lịch sử chuyển khoản hai mươi triệu cho ông Khải, kèm tin nhắn của mẹ: “Làm đúng như đã bàn, đừng để Trọng biết.” Bà Duyên nói mẹ muốn Hà rời khỏi nhà trước khi tôi trở về, để dễ thuyết phục tôi ký những giấy tờ liên quan đến mảnh đất bố để lại.

Ông Khải hẹn tôi ở quán nước bên bến sông, nơi ngày xưa bố tôi đưa hàng lên xe tải. Ông đặt lên bàn một cuốn sổ bìa nâu cháy xém một góc, buộc dây vải đen. Trên bìa còn ngôi sao méo mó tôi vẽ bằng bút mực hồi bé. Ông đưa thêm một phong bì vàng, bên ngoài là nét chữ của bố: gửi con trai Đức Trọng khi con đủ lớn để hiểu chuyện.

Bố viết rằng ông mong tôi sống ngay thẳng, đừng vì thương một người mà bất công với người khác. Ông biết mẹ từng làm những điều khiến ông đau lòng, nhưng không muốn tôi lớn lên trong oán hận, cũng không muốn tôi che giấu sự thật vì tình thân. Ông Lương, người làm kho năm xưa, kể nốt phần còn lại: mẹ tôi góp vốn mua đất cùng ông Khải và một người tên Lợi, thua lỗ, rồi tự viết tên đứa con mười bốn tuổi vào giấy tờ vay tiền. Đêm bố phát hiện, ông đứng lặng, chỉ hỏi sao em có thể mang tương lai của con ra đánh cược. Ông nhận gánh những khoản tiền thật, nhưng không chấp nhận dùng chữ ký của con. Ông ôm ngực ngã xuống nền kho ngay trong đêm ấy. Không ai dám chắc điều gì, chỉ biết trước khi ngã, ông đã bị ép quá lâu.

Tôi quay về nhà. Lần này mẹ không giấu nữa. Bà gật đầu, nước mắt chảy dài: bà đã thuê người dựng chuyện, chỉ định để Hà rời đi một thời gian, không ngờ cô phải sống trong miếu hoang. Rồi bà lấy từ chiếc tủ dưới bàn thờ ra một phong bì dày, thông báo đòi gần hai tỷ đồng, thời hạn chưa đầy một tuần, kèm bản thảo thỏa thuận đã điền sẵn tên tôi và tên Hà. Bà không xin tôi tha thứ. Bà xin tôi dùng tương lai của vợ con để gánh lấy.

Tôi đặt tập giấy xuống bàn. “Con sẽ không ký. Và con sẽ đem mọi thứ ra ánh sáng.” Bà hỏi có phải tôi định đưa mẹ ra trước pháp luật. Tôi nói con không có quyền kết tội mẹ, nhưng cũng không có quyền che giấu. Hôm sau tôi mang đoạn hình, tin nhắn, chuyển khoản, cuốn sổ đến nơi có thẩm quyền, ghi rõ điều mình thấy tận mắt và điều chỉ nghe kể.

Một buổi chiều, mẹ đến bệnh viện, tay xách túi cam. Hà vừa nhìn thấy bà đã kéo chăn che bụng, mặt tái đi. Tôi mời mẹ ra hành lang, nói rằng Hà chưa sẵn sàng. Bà hỏi chẳng lẽ bà thăm cháu nội cũng phải xin phép. Tôi đáp: “Mẹ không thể bắt người từng bị làm đau phải đón nhận mẹ ngay.” Bà đặt túi cam xuống ghế, lặng lẽ quay đi. Bóng lưng ấy còng xuống thấy rõ, và tôi khóc ngay giữa hành lang.

Tôi thuê một căn nhà cấp bốn nhỏ gần bệnh viện, trước hiên có dàn hoa giấy. Hôm Hà bước vào, cô đứng rất lâu ở ngưỡng cửa rồi hỏi: “Ở đây em có thể tự mở tủ lạnh, tự nấu cơm, đói thì ăn được không anh?” Cổ họng tôi nghẹn cứng. Tôi chỉ biết dắt cô vào bếp, nơi nồi cháo nóng đang bốc khói. Ít lâu sau, con gái chúng tôi chào đời, nhỏ xíu, tiếng khóc đầu tiên khiến tôi bật khóc trước mặt các bác sĩ. Tôi đặt tên con là An Nhiên.

Mẹ gửi cho Hà một chiếc áo len trắng và một lá thư. Bà nhận hết lỗi, không dám xin tha thứ. Hà đọc xong, gấp thư cất vào ngăn kéo, nói: “Em không mong mẹ khổ, nhưng em chưa biết mình có tha thứ được không.” Tôi gật đầu, bảo em không cần quyết định điều đó để làm vừa lòng ai.

Trong chiếc hộp gỗ bà nhờ ông Bảy chuyển, tôi tìm thấy chiếc chìa khóa đồng buộc chỉ đỏ và mảnh giấy của bố: mở ngăn bí mật sau vách gỗ trong gian buồng cũ. Tôi mở nó vào một buổi sáng nhiều gió. Bên trong chỉ có vài tờ biên nhận cũ bố đã trả nợ, và một bức thư ông viết riêng cho mẹ, dặn bà đừng để nỗi sợ mất tiền khiến mình đánh mất những người thật lòng thương mình. Hơn hai mươi năm trước, bố đã thấy rõ điều mà mẹ đến giờ vẫn chưa vượt qua.

Bây giờ, bà sống một mình trong căn nhà cũ. Tôi vẫn gửi đồ, vẫn hỏi thăm, nhưng không còn bước chân vào cùng bữa cơm với bà. Chiều nay Hà ngồi bên cửa sổ ru con ngủ, giọng hát khe khẽ chính là bài mẹ từng hát cho tôi nghe. Cô gọi tôi vào ăn cơm. Tôi gắp cho cô miếng cá kho, cô gắp lại cho tôi miếng thịt mềm, rồi cả hai nhìn nhau bật cười. Chỉ thế thôi mà mắt tôi cay xè.

Ở một ngôi nhà đầu làng, có lẽ giờ này bà đang thắp nhang cho bố tôi, chén nước chè nguội dần bên bàn thờ, và chiếc ghế nhỏ ngoài hiên, nơi Hà từng ngồi khâu áo cho con, vẫn phủ một lớp bụi mỏng.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!