Mẹ Tôi Mới Mất 20 Ngày, Dượng Đã Đuổi Tôi Khỏi Nhà – Nhưng Chiếc Két Mẹ Để Lại Khiến Ông Ta Câm Lặng…

Mẹ Tôi Mới Mất 20 Ngày, Dượng Đã Đuổi Tôi Khỏi Nhà – Nhưng Chiếc Két Mẹ Để Lại Khiến Ông Ta Câm Lặng…

Chiếc vali đen nằm sát chân tường, tay kéo gãy một bên, như một con vật bị bỏ rơi giữa ngõ.

Tôi đi làm về lúc gần sáu giờ chiều, người còn nồng mùi dây điện và mồ hôi. Bên cạnh chiếc vali là hai thùng giấy, quần áo nhét lộn xộn, giày dép chồng lên nhau. Trên cùng là một khung ảnh nằm nghiêng. Tôi dựng nó lên. Tấm hình tôi chụp với mẹ ở Tam Đảo ba năm trước, mặt kính nứt một đường chạy thẳng qua gương mặt bà.

Mẹ tôi mới mất hai mươi ngày. Hai mươi ngày, nhang trên bàn thờ vẫn chưa kịp nguội hẳn.

Tôi đẩy cổng bước vào. Ông Hùng, người chồng sau của mẹ, đang ngồi ở bộ bàn ghế phòng khách, trước mặt là ấm trà bốc khói. Ông không nhìn tôi ngay. Ông rót trà, nhấp một ngụm, rồi mới nói, giọng bình thản như đang bàn chuyện thời tiết.

— Từ hôm nay mày ra ngoài ở. Nhà này không còn chỗ cho mày nữa.

Tôi từng nghe nhiều câu nặng nề. Bị chủ công trình mắng, bị thợ khác xúc phạm, tôi đều nuốt xuống được. Nhưng câu này khiến tôi đứng yên như bị đóng đinh, bởi ông đang ngồi trên bộ bàn ghế mẹ tôi mua, ngay trước mặt ông là vết cháy nhỏ do tôi làm đổ nến hồi bé, và sau lưng ông là di ảnh mẹ.

Tôi nói đây là căn nhà mẹ con tôi sống từ trước khi bà lấy ông. Mặt ông Hùng đổi sắc. Ông đặt mạnh chén trà xuống bàn.

— Mày đừng tưởng cái nhà này còn liên quan gì đến mày.

Đúng lúc đó, trên tầng hai vang lên tiếng kéo ngăn tủ. Rất khẽ thôi, nhưng căn nhà vừa xong đám tang yên đến mức tiếng bước chân cũng nghe rõ. Phòng trên đó là phòng của mẹ. Từ ngày bà mất, tôi chưa dám bước vào.

Tôi tiến về phía cầu thang, ông Hùng đứng dậy chắn lại. Cạnh chân cầu thang có một đôi dép nữ màu nâu, gót cao hơn hẳn. Không phải của mẹ, bà chỉ đi dép nhựa mềm vì đau khớp. Trên ghế còn một chiếc túi xách màu đỏ sẫm. Trong tôi dâng lên một cảm giác khó gọi tên, như đứng trước căn phòng tối và biết rõ bên trong có thứ mình không muốn thấy.

Rồi tiếng bước chân đi xuống. Một người phụ nữ ngoài năm mươi, áo bộ màu tím nhạt, tóc búi gọn, xuất hiện ở đầu cầu thang. Tôi nhìn bà hai giây là nhận ra. Bà Thu, vợ cũ của ông Hùng. Bà đi xuống rất tự nhiên, như thể đây là nhà của bà, rồi hỏi:

— Anh nói chuyện với nó xong chưa?

Tôi hiểu ngay chiếc vali ngoài cổng không phải một phút nóng giận. Việc đuổi tôi đã được hai người bàn từ trước, khi mẹ tôi mới nằm xuống đúng hai mươi ngày.

Tôi bước lên cầu thang, chân nặng như đeo đá. Tay vịn gỗ sẫm màu vì năm tháng, nơi mẹ từng vịn bằng cả hai tay những ngày bệnh nặng, vừa thở vừa cười bảo mẹ già rồi, chỉ làm phiền con. Cửa phòng mẹ mở toang. Tôi luôn để khép hờ. Trong phòng vẫn còn mùi dầu gió bà hay xoa cổ tay, chiếc gối vẫn lõm một vệt nhẹ. Nhưng cánh tủ đã mở, một chiếc vali đỏ nằm dưới sàn, và bàn tay bà Thu đang đẩy quần áo của mẹ tôi sang một bên để lấy chỗ treo váy của mình.

Chiếc áo khoác nâu của mẹ, cổ đã sờn, một chiếc cúc dưới khác màu vì bà làm mất rồi tự tìm cái khác khâu vào, nằm kề bên bộ váy lạ. Một của người vừa đi, một của người vừa đến. Tôi thấy mẹ mình đang bị đẩy ra khỏi chính căn phòng bà từng sống.

Tôi gỡ bộ váy xuống, đặt lên giường, nói ít nhất hãy để yên căn phòng này qua bốn mươi chín ngày. Ông Hùng nhếch môi:

— Mày lấy tư cách gì? Mẹ mày mất rồi. Người phải đi là mày, không phải cô Thu. Đừng tưởng cứ là con thì đương nhiên có phần.

Lần đầu tiên trong đời, tôi nghĩ đến giấy tờ. Bà Thu ngồi xuống mép giường nơi mẹ tôi nằm hơn hai mươi ngày trước, thản nhiên hỏi ông tối nay ăn gì. Câu hỏi đời thường ấy đặt trong căn phòng ấy làm tôi rợn người. Họ nói với nhau như một đôi vợ chồng đang thu xếp cuộc sống mới, còn tôi đứng giữa phòng như người thừa.

Một lát sau, ông Hùng mở ngăn kéo dưới nhà, lấy ra một tập giấy, đặt trước mặt tôi.

— Muốn biết vì sao tao có quyền đuổi mày thì tự đọc đi.

Trang đầu là tên mẹ tôi, số căn cước, địa chỉ căn nhà, những dòng chữ chuyển quyền sử dụng đất cho ông Hùng. Tôi không hiểu hết câu chữ, chỉ biết đọc đến đâu ngực nặng đến đó. Rồi tôi nhìn xuống cuối trang. Chữ ký của mẹ. Nét đầu hơi nghiêng trái, nét cuối kéo dài vì bà quen ký nhanh vào sổ giao hàng từ thời bán bún ngoài chợ. Giống đến mức trong vài giây, chính tôi cũng nghi ngờ mình: hay mẹ đã thật sự đổi ý, đã âm thầm trao căn nhà cho người khác mà không nói với con một lời?

Ông Hùng thấy tôi im thì tưởng tôi đã chịu. Nhưng tôi lật sang trang có ghi ngày lập giấy. Đọc lần một, lần hai, lần ba. Tôi mở lịch điện thoại vì sợ mình nhớ nhầm. Ngày ấy mẹ đang nằm viện, buổi sáng bác sĩ gọi tôi vào báo tình trạng yếu đi nhiều. Tôi xin nghỉ cả ngày ở bên bà.

— Mẹ ký bằng tay nào?

— Tay phải. — Ông đáp nhanh quá.

Sống lưng tôi lạnh toát. Hôm ấy tay phải mẹ sưng tím vì ven vỡ, quấn băng trắng quanh mu bàn tay, các ngón co cứng đến cái thìa cháo cũng không cầm nổi. Vậy mà nét mực trên tờ giấy kia đều đặn, liền mạch, không một chút run.

……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

TẠI ĐÂY 👇👇👇

Tối đó tôi ngủ nhờ phòng trọ thằng Tuấn, bạn cùng nghề. Tôi ngồi dựa tường, ôm tấm ảnh nứt kính, và nhớ ra một đêm trong viện, bốn hôm trước khi mẹ mất. Gần mười một giờ, phòng bệnh tắt đèn, mẹ gọi tên tôi rất khẽ.

— Con còn nhớ hộp kim chỉ ở ngăn cuối tủ gỗ không? Trong đó có một chiếc chìa khóa nhỏ. Nếu có chuyện gì, con phải tìm nó. Và nếu một ngày có người bảo căn nhà không còn thuộc về con, đừng vội tin.

Lúc ấy tôi cười, bảo mẹ lo xa. Sau đám tang tôi có mở hộp kim chỉ, chỉ thấy cuộn chỉ, kim, cúc áo, không có chìa khóa nào. Giờ tôi mới nhớ ông Hùng từng cầm chiếc hộp ấy vào bếp, bảo tìm kim khâu cúc. Mười năm sống chung, tôi chưa thấy ông khâu một chiếc cúc.

Sáng hôm sau, ông Hùng khóa cổng không cho tôi vào. Tôi ngồi quán nước đầu ngõ, bà Năm hàng xóm nhìn tôi rồi hỏi một câu làm tay tôi khựng lại: người phụ nữ ngoài năm mươi hay đến nhà hồi mẹ cháu nằm viện, có phải bên chú Hùng không? Nhà bà có camera con trai lắp từ năm ngoái, góc quay hắt vào cổng nhà tôi.

Tối ấy chúng tôi xem lại theo từng mốc trong cuốn sổ tôi ghi. Bà Thu hiện ra nhiều lần, khi đội mũ rộng vành, khi khẩu trang kín mặt, đều vào lúc mẹ tôi còn nằm viện, còn thở. Có cả người đàn ông áo sơ mi sáng màu, tay kẹp chiếc cặp đen. Rồi ông Hùng bước ra cổng, hai tay ôm một vật phủ chiếc khăn caro mẹ từng phủ lên máy khâu. Hình dáng ấy giống hệt chiếc két sắt nhỏ của mẹ.

Tôi gọi dì Lan, em gái mẹ. Dì im rất lâu rồi nói: chị mày dặn chỉ được nói khi trong nhà thật sự xảy ra chuyện. Hôm sau dì dẫn tôi sang nhà cậu Quý. Từ sau chiếc tủ gỗ, cậu lôi ra một vật bọc bao tải cũ. Góc phải có vết lõm nhỏ, hồi cấp hai tôi làm rơi cái búa vào. Chiếc két thật, mẹ đã âm thầm gửi đi từ trước khi nhập viện. Thứ ông Hùng mang đi chỉ là cái vỏ rỗng.

Dì đưa tôi một phong bì vàng ngả màu, ngoài ghi tên tôi bằng nét chữ run run. Bên trong là chiếc chìa khóa quấn mảnh vải đỏ. Mẹ đã tính cả chuyện chiếc chìa trong hộp kim chỉ có thể biến mất. Ổ khóa kẹt, tôi xoay thêm một lần mới nghe tiếng bật khô khốc.

Trong két có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc đứng tên mẹ, cấp từ rất lâu trước khi bà lấy ông Hùng, và bản di chúc lập lúc bà còn khỏe, ghi rõ căn nhà để lại cho tôi. Chữ ký trên đó nghiêng nét, mạnh mẽ, khác hẳn tờ giấy ông Hùng đưa. Cuối cùng là lá thư bốn trang, chữ càng về cuối càng run.

Mẹ viết rằng bà phát hiện ông Hùng liên lạc với bà Thu từ mấy tháng trước. Ông chối, rồi trách bà bệnh nên nghĩ linh tinh. Mẹ viết: “Mẹ không sợ mất của. Mẹ chỉ sợ khi mẹ không còn, con bị đẩy ra khỏi chính căn nhà của mình.” Bà dặn nếu có tờ giấy nào bảo mẹ tự nguyện trao nhà lúc nằm viện, con phải kiểm tra thật kỹ, vì tay phải mẹ đã không còn ký nổi. Đừng nóng giận. Hãy giữ bằng chứng.

Tôi không mang thư về đối chất. Tôi gọi ông Hùng, hạ giọng nói mệt rồi, không tranh nữa, chỉ xin một khoản nhỏ coi như phần mẹ để lại rồi sẽ ký giấy từ bỏ. Ông mềm giọng ngay.

Ba hôm sau tôi trở lại căn nhà, mang theo chú Thành, người họ hàng điềm đạm, ngồi cạnh làm chứng. Bà Thu ngồi sẵn trong phòng khách. Tôi hỏi giấy tờ của mẹ chuẩn bị trước hay hôm đó mới làm. Ông Hùng thấy tôi ngoan ngoãn nên đáp: đã chuẩn bị mấy tuần. Bà Thu chen vào: “Hôm ấy không tranh thủ, vài hôm nữa bà ấy ký không nổi.” Rồi bà im bặt. Ông Hùng hỏi tôi: mẹ mày có để lại di chúc không? Tôi chưa từng nhắc hai chữ ấy.

Sau đó tôi chỉ làm một việc: đem tất cả ra nơi mọi tờ giấy đều bị kiểm tra. Đất đứng tên mẹ từ trước hôn nhân. Di chúc lập lúc bà còn tỉnh táo. Còn tờ giấy kia, ngày ký trùng đúng lúc bà yếu đến không nâng nổi cốc nước, người chuẩn bị mỗi người nói một kiểu. Ông Hùng thôi gọi điện. Khi lời kết luận được đọc lên, tôi không thấy hả hê, chỉ nhớ câu mẹ dặn trong viện: cái gì của mình rồi vẫn là của mình.

Ngày trở về, tôi kéo theo chiếc vali đen gãy tay kéo. Ông Hùng và bà Thu đã dọn đồ gần hết. Tôi không ném gì ra cổng. Ông bước qua ngưỡng, khẽ nói một câu xin lỗi, tôi không đáp. Cánh cổng sắt khép lại với tiếng kêu quen thuộc, và căn nhà bỗng rộng đến mức nghe rõ cả tiếng thở của mình.

Tôi lên phòng mẹ, treo lại chiếc áo khoác nâu vào chỗ cũ. Nhang trên bàn thờ cháy chậm. Tôi nói con về rồi, nhưng chiếc ghế mẹ hay ngồi nhặt rau vẫn trống, và chiều hôm ấy tôi ngồi đó rất lâu, chờ một tiếng kéo ghế không bao giờ vang lên.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!