Vừa Đậu Thủ Khoa Đại học Thì Mẹ Mất Tôi Quỳ Gối Xin Nhà Nội Lo Hậu Sự Tất Cả Từ Chối 15 Năm Sau Các Con Bác Cả Đến công ty xin việc tôi nói đúng 1 câu…..
Tôi quỳ trên nền gạch đỏ sân nhà nội, khăn tang trắng còn nguyên trên đầu, đầu gối dính đầy bụi, và nghe bà nói một câu mà đến giờ vẫn vang trong tai: “Người nào lo phần người nấy.”
Mẹ tôi đang nằm ở nhà, đã gần hai ngày, phủ tấm vải mỏng hàng xóm cho mượn. Trong túi áo tôi là tờ giấy báo thủ khoa đại học, nhàu nát vì mồ hôi. Tôi mười tám tuổi, và tôi đang quỳ xin vay tiền mua cho mẹ một chiếc quan tài.
Cả nhà nội có mặt. Ba bác trai, các bác gái, mấy anh họ ngồi uống nước chè như đang xem một vở kịch. Không ai hỏi tôi đã ăn gì chưa. Trong sân, chiếc quạt điện quay đều trên mái hiên, mùi xi măng và gạch nung quen thuộc; hồi bé tôi từng đứng đúng chỗ này, chờ bà chia bánh.
“Cháu không xin cho, cháu xin vay. Sau này đi làm cháu trả đủ,” tôi nói, giọng khản đặc.
Bác cả đặt chén xuống. “Bố mày ngày xưa tự chọn ra ở riêng thì tự chịu.” Tôi ngẩng lên: “Nhưng mẹ cháu mất rồi. Bác biết bà ấy nằm ở nhà gần hai ngày rồi.” Bác im. Bà nội quay mặt đi.
Đức Vinh, anh họ được bà cưng nhất, từ ngoài hiên bước vào, nhếch môi: “Em đỗ đại học rồi à? Con gái học cao rồi cũng lấy chồng, nhà nội đổ tiền vào thì ai được nhờ?” Câu ấy tôi đã nghe suốt tuổi thơ. Chỉ khác là lần này, mẹ tôi đang nằm chờ một chiếc quan tài.
Bác ba, người hiền nhất nhà, đưa tay vào túi. Cả phòng nhìn ông. Bà nội lạnh giọng: “Tiền của chú thì chú tự cho.” Bàn tay ấy rút ra, trống không. Tôi hiểu có người không ác, nhưng hèn trước sự yên ổn của chính mình, thì lòng tốt cũng chẳng cứu được ai.
Tôi đứng dậy, cúi chào, đi ra cổng. Sau lưng, bác ba lí nhí: “Nhà mình làm thế có thất đức quá không?” Không ai trả lời. Trời bắt đầu mưa. Tôi đi bộ ba cây số về nhà, để nước mưa che đi gương mặt mình.
Về đến ngõ, mùi nhang trầm quyện với mùi bùn non sau mưa. Trong gian giữa, mẹ nằm đó, mái tóc dài đã được ai chải gọn. Tôi chạm vào bàn tay bà, lạnh như chiếc chậu nhôm bà từng bưng ra sân mỗi sớm. Nếu có thể đổi tấm giấy báo này lấy một lần mẹ ngồi dậy ho thêm, tôi sẽ đổi ngay. Tôi ngồi đó cho đến khi tiếng ếch ngoài ruộng lấn át cả tiếng khóc của chính mình.
Tuổi thơ tôi bắt đầu bằng ánh mắt lạnh của bà nội. Mẹ tôi mồ côi, không ruộng đất, không của hồi môn, còn bố tôi cãi cả nhà để cưới bà. Bà nội ghét mẹ từ ngày đầu, và khi tôi ra đời là con gái, bà ghét luôn. Dịp giỗ Tết, các anh họ được chia bánh trước, tôi đứng cuối, hết phần thì bà bảo: “Hà về nhà ăn, mẹ cháu khéo tay thiếu gì món.”
Bố tôi mất vì bệnh thận khi tôi mười sáu tuổi. Trước khi đi, ông dặn: “Con đừng sống chỉ để chứng minh con gái hơn con trai. Cứ sống cho đàng hoàng, người ta nhìn lâu sẽ biết.” Từ đó mẹ gánh hết: cấy thuê, gặt thuê, bóc lạc, rửa bát đám cưới. Đêm nào bà cũng ho, và đêm nào tôi hỏi, bà cũng đáp: “Mẹ làm đồng nhiều nên mệt.”
Bà giấu tôi tờ giấy khám dặn lên bệnh viện kiểm tra tim, chỉ nói: “Để con Hà thi đại học xong đã.” Ngày giấy báo đến, bà khóc và bảo khói bếp bay vào mắt, trong khi bếp chưa hề nhóm lửa. Tối ấy bà ngồi vá nách chiếc áo sơ mi trắng cho tôi, bỗng khựng tay, mặt tái đi. Hai ngày sau bà ngã trước thềm. Trên xe lên viện, tôi nắm bàn tay lạnh dần của mẹ, và chỉ nghe được hai chữ thều thào: “Đi học.” Đó là lời cuối cùng của mẹ.
Về nhà, tôi mở chiếc hòm gỗ và thấy chiếc áo trắng đã vá xong, đường chỉ xiêu vẹo vì tay mẹ run. Tôi ôm nó vào ngực, lần đầu hiểu thế nào là một tin vui đến quá muộn.
Tối ấy tôi quỳ bên mẹ, nấc lên: “Con đỗ thủ khoa để làm gì, đến quan tài cho mẹ con cũng không lo nổi?” Bác Oanh nhà bên đứng sau lưng bật khóc. Chồng bác, bác Thịnh, chỉ lẳng lặng quay mặt ra sân, rồi biến đi đâu rất lâu.
Sáng ra, tôi nghe bác Oanh gọi lớn ngoài ngõ: “Ông ơi, con nghé đâu rồi?” Tôi chạy sang. Cọc tre vẫn còn, sợi dây thừng nằm xoài dưới đất, máng cám tối qua còn dở một nửa. Con nghé ấy nhà bác nuôi gần một năm, là tài sản đáng giá nhất của một gia đình làm ruộng.
Bác Thịnh dựng chiếc xe đạp vào tường, ống quần dính đầy bùn. Bác không đáp vợ, chỉ móc từ trong áo ra một túi nilon cuộn chặt. Chân tôi mềm nhũn. Tôi hiểu bác đã làm gì, và chưa kịp mở miệng thì bác nhìn thẳng tôi, nói một câu khiến tôi không bao giờ quên được.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
“Chính vì nghèo nên bác mới biết lúc không có tiền nó khổ thế nào,” bác nói, đặt túi tiền vào tay tôi. Bác Oanh bước tới, lau tay vào vạt áo: “Bác không trách ông ấy. Giờ nhà có việc cần hơn thì bán. Vào với mẹ cháu đi, người sống cứ đứng đây khóc thì người mất lại phải chờ.”
Chiều đó, chiếc quan tài được đưa tới. Không phải gỗ quý, chỉ vừa sức một xóm nghèo, nhưng khi nó được đặt xuống gian giữa, lòng tôi nhẹ đi một chút. Cả xóm kéo sang, không ai nhận tiền công. Hôm đưa mẹ ra nghĩa trang, khi những nắm đất đầu tiên rơi xuống, tôi mới biết trên đời này không còn ai chờ mình về ăn cơm nữa. Bác Thịnh đứng cách vài bước, đến khi trời tối mới nói: “Về thôi con.” Lần đầu tiên bác gọi tôi bằng chữ con.
Ba ngày sau, tôi xếp quần áo định bỏ học đi làm công nhân. Bác Thịnh chạy sang, mặt đỏ gay: “Bác bán nghé để cháu ngồi đây xếp sách vào hòm à?” Sáng hôm sau, bác dúi vào tay tôi năm tờ một trăm nghìn và chiếc chuông đồng đã xỉn màu từng đeo trên cổ con nghé. “Khi nào khổ quá muốn bỏ cuộc thì nhìn nó. Con nghé còn bị bán được để cháu đi tiếp, cháu không được tự bán rẻ tương lai mình.”
Tôi lên Hà Nội với một túi vải, chiếc áo mẹ vá, và tiếng chuông leng keng mỗi đêm trong ký túc xá. Tôi học như kẻ đuổi theo chính mình, cho đến khi ngất ở thư viện vì kiệt sức. Anh Tuấn, con trai bác Thịnh, bắt xe từ Hải Phòng sang, nói: “Tự lập khác với tự hành xác.” Tôi tốt nghiệp xuất sắc, học tiếp đến tiến sĩ, rồi lập công ty tư vấn tài chính Minh Tâm.
Cuối năm 2023, tôi mới dám về thăm mộ bố mẹ. Cỏ mọc kín, bia loang rêu. Tôi nhổ cỏ bằng tay, móng trượt vào gạch bật máu mà không dừng. “Bố mẹ, con về muộn quá.” Rồi tôi sang nhà bác Thịnh, giờ tóc bạc, lưng còng. Bác chỉ hỏi một câu: “Bao năm nay có ăn uống tử tế không?” Khi tôi đòi xây nhà mới cho hai bác, bác đập tay xuống ghế: “Bác giúp con thành người chứ có cho vay đâu mà con đem cả vốn lẫn lãi về trả.” Cuối năm 2024, tôi và Tuấn cưới nhau. Lúc làm lễ, tôi gọi hai bác là bố mẹ. Ngoài cổng, bà nội chống gậy đứng nhìn rất lâu rồi quay đi.
Nhà nội lúc ấy đã sa sút, ruộng đất bán đi trả nợ làm ăn của con cháu. Sang thăm, tôi thấy trong tủ bảy chiếc bát men trắng, bà mua cho bảy đứa cháu trai về ăn Tết, giờ không chiếc nào được dùng. Bác ba nói khẽ: “Hôm đó bác có tiền trong túi. Bác xin lỗi.” Chưa đầy một tuần sau, bác cả gọi: “Thằng Vinh với thằng Sơn đang khó khăn, cháu cho hai đứa một chân trong công ty. Dù sao cũng là người nhà.” Hai chữ “người nhà” khiến tay tôi siết chặt điện thoại. Tôi chỉ đồng ý cho họ phỏng vấn như mọi người; cả hai vào làm ở vị trí cơ sở. Ngày ký hợp đồng, Vinh nhếch môi: “Hiểu rồi, sếp Hà.”
Vài tháng sau, khách hàng lần lượt quay sang đối thủ, với mức giá thấp hơn đúng phần tôi định nhượng. Bốn hồ sơ dịch vụ giá cao bất thường, gần mười tám tỷ, hiện ra trong sổ sách. Nhân viên lo không biết có đủ lương. Dấu vết đầu tiên lại chỉ về khu tài chính, nơi chị Dung, người cùng tôi dựng công ty từ bảy con người, làm việc. Tôi nghi ngờ chị, khóa quyền truy cập của chị.
Hai tuần sau, kiểm toán độc lập gọi tôi vào phòng họp. Trên màn hình là đoạn camera hành lang: một bóng người bước vào phòng quản lý dự án, nơi chiếc máy tính đang bỏ mở, và ở lại hơn tám phút. Không phải chị Dung. Là Đức Vinh. Còn Sơn, khi bị mời vào phòng, tái mặt rồi bật khóc: nợ cờ bạc, nhà cung cấp ma, người trung gian của Đặng Quốc Hưng, kẻ từng bị tôi từ chối hợp tác.
Tôi giao toàn bộ cho luật sư và cơ quan có thẩm quyền, không kết luận ai có tội, việc ấy thuộc về pháp luật. Bác cả gọi sáu cuộc: “Cháu cứu anh Vinh đi.” Tôi đáp: “Chính vì là người nhà nên cháu đã cho anh ấy cơ hội. Từ lúc anh lợi dụng nó, cháu không thể bắt nhân viên gánh thay.” Bác ba gọi riêng: “Nhà này sai mẹ con cháu một lần rồi. Bắt cháu chịu thiệt lần nữa là sai lần hai.”
Tháng bảy năm 2026, cô Nhàn gọi: bà nội yếu lắm. Tôi về. Bà nằm nghiêng, nhỏ như một nắm tro. Bà bảo lấy ra tấm ảnh cưới của bố mẹ tôi, mẹ gửi cho bà từ hồi mới về làm dâu. “Bà ghét mẹ cháu không phải vì nó nghèo. Vì bố cháu thương nó. Bà ghét nó vì nó tốt mà bà không chịu nhận.” Rồi bà nói: “Bà không bắt cháu quên.” Trước khi tôi ra ngoài, bà dặn cô Nhàn: “Lưu số con Hà vào. Ghi là con Hà.” Hai chữ ấy đến muộn hơn ba mươi năm, nhưng tôi vẫn nghe được.
Gần sáng bà mất, lặng lẽ như một người già đã mệt đủ lâu. Sau tang lễ, bảy chiếc bát vẫn xếp ngay ngắn trong tủ, và tôi bảo bác cả cứ để nguyên như thế.
Chiều hôm sau, tôi và Tuấn sang nhà bố mẹ. Ngoài sân, mấy đứa con tranh nhau thay một cái bóng đèn, bố cằn nhằn, mẹ cười. Tôi đứng ngoài cổng rất lâu. Chiếc chuông đồng trong túi rơi ra, một đứa cháu nhỏ nhặt lên hỏi: “Cô Hà ơi, chuông của ai thế?” Tôi lắc nhẹ. Leng keng. Tiếng chuông ấy ngày xưa nhắc tôi về cái nghèo, giờ chỉ còn nhắc về một con nghé không bao giờ trở lại. Và tôi vẫn ước, chỉ một lần thôi, có ai đứng ở cổng trách: “Con gái con đứa, tối rồi còn la cà đâu.”





