Tôi Nuôi Chồng Học Thạc Sĩ Suốt 8 Năm – Ngày Anh Nhận Bằng, Tôi Lại Nhận Đơn Ly Hôn
Buổi sáng hôm ấy tôi dậy từ ba giờ như tám năm nay vẫn vậy. Nhưng không phải để nấu xôi. Tôi lôi chiếc áo dài xanh cổ vịt ra khỏi bọc ni lông, chiếc áo may năm hai mươi ba tuổi, mặc đúng hai lần trong đời, rồi ủi kỹ đến mức tay run vì sợ cháy.
Tám giờ, tôi ngồi hàng ghế cuối hội trường, nhìn chồng mặc áo cử nhân đen bước lên nhận bằng thạc sĩ. Người ta vỗ tay, tôi vỗ mạnh hơn tất cả. Tay tê dại mà tôi không thấy đau.
Mười một giờ rưỡi tôi về nhà, nấu nồi canh chua cá lóc, tính chiều dọn mâm cúng ông bà báo chuyện học hành. Tôi bước vào phòng khách và đứng khựng lại. Trên bàn thờ có hai tờ giấy đặt cạnh nhau: tấm bằng đóng khung sẵn từ hôm qua mà tôi không hề hay, và đơn ly hôn, chữ ký bay bướm, lý do đánh máy sáu chữ: không hợp quan điểm sống.
Cái vá canh trong tay tôi nhỏ nước xuống nền gạch. Ngày cấp bằng và ngày lập đơn giống hệt nhau, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm.
Trước ngày đó, tôi nghèo nhưng tôi vui. Hai vợ chồng ở căn phòng trọ mười hai mét vuông, mùa mưa nước tràn tới đầu giường. Anh Khải bảo: “Không học thì anh với em cả đời ở cái phòng này.” Tôi tin, tin đến mức coi việc anh học là việc của mình. Sổ chi tiêu tôi kẻ hai cột: học phí và ăn. Cột học phí không bao giờ được thiếu. Ba giờ sáng nấu xôi, rồi ngồi máy may tới trưa, tay có ba vết sẹo do kim đâm xuyên móng.
Má chồng tôi, bà Tám Liên, đi đâu cũng khoe con dâu vàng, con dâu ngọc. Nhưng khen xong bà luôn nói thêm: “Con ráng thêm chút nữa nghe con.” Câu nói êm như ru ấy đẩy tôi đi suốt tám năm.
Sáng lễ tốt nghiệp, tôi đọc lời cảm ơn trong cuốn kỷ yếu: cảm ơn thầy, cảm ơn má, cảm ơn “người bạn đã lặng lẽ đồng hành”. Không có chữ vợ. Rồi anh bước xuống. Một đứa bé chừng ba tuổi mặc đầm hồng chạy ào ra, giơ hai tay: “Ba ơi bồng con!” Chồng tôi bồng nó lên rất quen tay, đội chiếc mũ cử nhân lên đầu con bé và cười. Nụ cười ấy, tám năm nay tôi chưa từng được thấy.
Tôi ngồi im tới khi hội trường vãn người. Trong đầu chỉ có một ý nghĩ lạnh và rõ: con bé ba tuổi, nghĩa là chuyện này bắt đầu từ lúc tôi còn đi vay nóng ngoài chợ để đóng tiền học cho cha nó.
Ba tuần sau, tôi giặt chiếc ba lô cũ của anh, tay chạm vào tờ hóa đơn tiệm vàng đã ngả màu: một đôi bông tai, hai mươi mốt triệu tám. Mắt tôi rơi xuống dòng ngày tháng. Đó là ngày tôi nằm giường số mười hai bệnh viện Hùng Vương, ngày tôi mất đứa con gái đầu lòng ở tháng thứ sáu. Hôm ấy bà Tám vào thăm, nắm tay tôi, nước mắt chảy xuống cằm: “Nhà mình hết tiền rồi con ơi.” Tôi tự bắt xe ôm về, nằm một mình nghe quạt máy cọt kẹt suốt ba đêm.
Tôi đọc tiếp dòng cuối hóa đơn, tên người mua, ba chữ in rõ ràng, không thể nhìn lộn. Nguyễn Thị Liên. Má chồng tôi.
……………………………………………
Đêm đó tôi mở cuốn tập học trò, ghi dòng đầu: bắt đầu ghi lại. Ba tháng tôi im lặng, vẫn nấu xôi, vẫn bóp vai cho bà mỗi tối. Tôi im không phải vì hiền, mà vì biết mình chỉ được nổ một phát duy nhất, mà tôi chưa có đạn. Tôi in sao kê, lên trường đối chiếu. Kỳ tôi đưa bốn mươi hai triệu, trường thu đúng mười tám. Tính ngược tám năm, gần bốn trăm triệu chưa từng vào trường.
Rồi tôi lau tủ thờ, ngăn kẹt, đồ đổ tung. Trong đó là cuốn sổ tiết kiệm đứng tên Nguyễn Thị Liên, có dòng mười lăm triệu nộp vào ngày mười chín, ba ngày sau khi tôi mất con. Số dư: một tỷ hai trăm mười bốn triệu. Ngoài phòng khách bà đang ngân nga vọng cổ. Tôi chụp ảnh từng trang, đặt lại đúng nút thun cũ, rồi ra hỏi má có ăn chè đậu xanh không. “Ừ, nấu đi con, đừng ngọt quá.”
Trên nóc tủ bà, tôi còn tìm thấy cuốn sổ tay bìa da. Bà viết cho con trai từ năm tôi mới về làm dâu, một bảng tính học phí trước cả tám năm, và ở góc trang, một dòng nhỏ: “Con nhỏ này nó chịu cực được.” Tôi hiểu ra, tôi chưa từng có cuộc hôn nhân nào. Tôi chỉ có một bản hợp đồng mà chỉ một bên biết.
Rồi tôi biết thêm: căn nhà má tôi bán hai công vườn dừa để mua cho tôi đã bị đem thế chấp chín trăm triệu, bằng giấy ủy quyền mang chữ ký giả của tôi, ký đúng ngày tôi quỳ bên quan tài má ở Bến Tre. Giám định kết luận: không phải chữ tôi.
Ngày họ hẹn ở phòng công chứng, bà Tám cầm tay tôi, xoa xoa như tám năm nay: “Duyên hết thì buông cho nhẹ con.” Bà đẩy tới xấp giấy bắt tôi nhận nợ, giao nhà. Chồng tôi ngẩng lên: “Anh đã trả công em bằng tám năm rồi.” Trả công. Anh dùng đúng hai chữ ấy.
Tôi rót cho bà ly nước, rồi đặt lên bàn từng thứ: bảng đối chiếu học phí, ảnh cuốn sổ tiết kiệm, kết luận giám định, trang sổ tay bìa da. Mặt bà cứng như tượng. Giọng ngọt tám năm biến sạch: “Mày lục đồ của tao!” Bà hất ly nước ướt cả xấp giấy lẫn áo tôi.
Tôi lau từng tờ, đặt chiếc điện thoại cũ giữa bàn, bấm loa ngoài. Bốn phút mười một giây. Giọng bà vang lên: “Ký giống lắm, không ai biết đâu, mà nó có biết cũng làm gì được, đàn bà thất học.” Chồng tôi bật dậy làm đổ ghế.
Tôi đặt tấm bằng và đơn ly hôn sát nhau: “Anh học xong ngày nào thì bỏ em ngày đó, không lệch một buổi. Người ta nói em thất học, mà em vẫn biết đọc ngày tháng.”
Ra tới cửa kính, con Diệu, đứa em họ tôi từng nuôi ăn học, ôm đứa bé đứng đó, mặt trắng bệch. Đứa nhỏ nhìn tôi rồi cười. Con nít mà, nó biết gì đâu. Tôi đưa tay kéo chiếc nón trên đầu nó xuống cho khỏi nắng, rồi ra bến xe buýt, ngồi xuống mới thấy hai đầu gối run bần bật.
Công lý tới chậm, mười một tháng. Bà Tám lãnh bảy năm, anh Khải năm năm sáu tháng. Lúc tòa đọc quyết định, tôi chẳng thấy nhẹ người. Bà ngẩng lên nhìn tôi, không hối hận, chỉ khó chịu như đang bực vì một món đồ trong nhà tự nhiên hư. Giá bà khóc một tiếng, dù khóc giả.
Tôi lấy lại căn nhà nhưng không ở nữa. Giờ tôi phụ bếp ở Bình Chánh, không ai hỏi chuyện cũ. Tôi ra mộ má, nói: “Má ơi, con lấy lại được nhà rồi.” Gió thổi qua hàng dừa. Không ai trả lời.
Trong ngăn tủ đầu giường, tôi vẫn giữ một phong bì nâu đựng hai tờ giấy. Mỗi năm tới cái ngày ấy, tôi đặt chúng cạnh nhau, nhìn hai cái ngày giống hệt nhau chừng mười phút. Rồi cất đi, tắt đèn, ngồi trong bếp nghe chiếc quạt máy cũ kêu cọt kẹt y như hồi ở phòng trọ. Tôi không khóc, chỉ ngồi một mình trong căn bếp tối.





