Tưởпg Vợ Đã CҺết, Tỷ PҺú Lập Bàп TҺờ… Ngàү Cȏ Trở Lạι, Bí Mật KιпҺ Hoàпg Bị PҺơι Bàү
“Anh lập bàn thờ cho tôi rồi, bây giờ còn đến đây làm gì?”
Tôi nói câu ấy khi Trần Hoàng Nam đứng chết lặng ngoài sân, bộ vest đắt tiền dính đầy bùn đất, đôi mắt nhìn tôi như nhìn một người vừa đội mồ sống dậy. Sau lưng tôi, hai đứa nhỏ nép sát vào nhau. Bé Bắp nắm tay em, còn bé Mít thì thì thầm: “Mẹ ơi, chú đó là ai vậy?”
Câu hỏi ấy khiến mặt Nam trắng bệch.
Sáu năm trước, tôi từng là vợ anh. Còn bây giờ, trong mắt con tôi, anh chỉ là một người đàn ông lạ đứng trước cửa nhà mái tôn cuối xóm.
Nhưng lúc đó tôi không hề biết rằng, sự thật phía sau mọi chuyện còn đau hơn cả tai nạn đêm mưa năm ấy.
Ngày đó, Nam là giám đốc một công ty thực phẩm sạch đang lên. Anh bận rộn, áp lực, nợ ngân hàng chồng chất. Tôi chỉ là cô vợ quê, về làm dâu trong căn biệt thự rộng mà lúc nào cũng lạnh. Mẹ chồng tôi, bà Xuân, chưa bao giờ nói thẳng là ghét tôi, nhưng từng ánh mắt, từng câu nói đều khiến tôi hiểu mình không thuộc về nơi đó.
Rồi công ty bị lộ hồ sơ giá, mất hợp đồng lớn. Anh họ của Nam là Đức Vinh nói tài khoản truy cập cuối cùng là của tôi. Tôi sững sờ, còn chưa kịp giải thích thì ánh mắt Nam đã đổi khác.
Tối hôm ấy, tôi đang nấu cháo gà cho mẹ chồng thì bụng quặn lên, máu thấm qua váy. Tôi vừa biết mình có thai sau gần hai năm chạy chữa, nhưng chưa dám nói vì sợ mừng hụt. Tôi gọi bác sĩ Sơn đến đưa đi viện.
Nam về đúng lúc đó.
Anh nhìn tôi, nhìn người đàn ông đứng cạnh xe, rồi hỏi lạnh như dao: “Cô còn giấu tôi điều gì nữa?”
Tôi đau đến muốn ngã, chỉ cầu xin: “Cho em đi viện đã, về em giải thích hết.”
Nhưng không ai nghe. Mẹ chồng tôi mắng tôi là đàn bà nhà quê không biết điều. Nam đứng im. Tôi quay lại nhìn anh hai lần. Lần đầu là cầu cứu. Lần sau, tôi biết mình đã mất anh rồi.
Chiếc xe lao đi trong mưa. Đường đèo trơn trượt, xe tải lấn làn, một tiếng va chạm vang lên rồi mọi thứ tối sầm.
Khi tỉnh lại ở bệnh viện huyện Phú Lâm, tôi mất giấy tờ, người đầy vết thương, bụng đau âm ỉ. Tôi nhờ y tá gọi về nhà Nam. Tôi đọc số điện thoại bằng tất cả hy vọng còn lại.
Người nghe máy là bà Xuân.
Bà biết tôi còn sống. Biết tôi đang mang thai. Nhưng bà tắt máy.
Sau này tôi mới biết Đức Vinh đứng cạnh bà lúc đó. Hắn nói nếu tôi quay về, công ty sẽ tan nát, danh tiếng nhà họ Trần sẽ bị kéo xuống bùn. Và mẹ chồng tôi đã chọn im lặng.
Vài ngày sau, Đức Vinh đến bệnh viện. Hắn nói Nam đã lập bàn thờ cho tôi, nói anh không còn tin tôi nữa, nói tôi quay về chỉ làm mọi chuyện tệ hơn. Tôi khóc đến không thở nổi, vẫn viết một lá thư nhờ hắn đưa cho Nam.
“Anh Nam, nếu anh còn tin em một lần, xin anh đến đón mẹ con em.”
Tôi chờ một ngày, hai ngày, rồi nhiều ngày. Không ai đến.
Cuối cùng, tôi hiểu. Có những cánh cửa không đóng bằng khóa, mà đóng bằng sự im lặng của người mình từng tin nhất.
Ông Tư Lộc, một người xa lạ từng cứu tôi sau tai nạn, đưa tôi về nhà bà Sáu Dung ở cuối xóm. Bà Sáu nghèo, sống một mình, nhưng vẫn cưu mang tôi. Người trong xóm bàn tán đủ điều. Tôi không cãi. Tôi chỉ cúi đầu nhặt rau, vo gạo, may vá, giữ lấy hai đứa con trong bụng.
Đêm tôi sinh, trời mưa trắng xóa, điện cúp. Bà đỡ đến muộn, bà Sáu nắm tay tôi run bần bật. Rồi hai tiếng khóc vang lên giữa căn nhà mái tôn dột nước. Tôi đặt tên con trai là Bắp, con gái là Mít. Tên quê mùa thôi, nhưng với tôi, đó là cả mạng sống.
Sáu năm, tôi sống bằng nghề may vá và bán rau. Có hôm trong túi còn chưa tới tám chục ngàn, Mít lên cơn hen mà thuốc hết. Tôi bế con chạy giữa mưa ra tiệm thuốc, năn nỉ mua thiếu. Người ta lắc đầu. Cuối cùng bà Tám Hòa ở quán nước góp tiền giúp tôi.
Bắp thì hay bị bạn chọc là không có ba. Có lần con đánh nhau, về nhà tay rớm máu. Tôi chỉ lau vết thương rồi nói: “Người ta nói sai, mình sống cho đúng là đủ.”
Tôi tưởng đời mình cứ thế trôi qua. Cho đến ngày trường xã phát học bổng.
Nam về huyện Phú Lâm với tư cách nhà tài trợ. Khi cô giáo gọi tên “Trần Hoàng Bắp, Trần Hoàng Mít”, anh khựng lại. Khi nhìn thấy Bắp, anh tái mặt. Vì thằng bé giống anh đến đau lòng.
Chiều đó, anh tìm đến nhà tôi.
Và tôi đã nói câu đầu tiên ấy.
Nam đứng ngoài sân rất lâu. Anh hỏi: “Hai đứa là con anh phải không?”
Tôi nhìn anh. Sáu năm trước, tôi từng mong anh hỏi một câu tử tế. Bây giờ câu hỏi ấy đến quá muộn.
“Bây giờ anh hỏi để làm gì?”
Anh không trả lời được.
Những ngày sau, Nam quay lại nhiều lần. Ban đầu anh mang sữa, quần áo, tiền. Tôi từ chối. Tôi nghèo thật, nhưng tôi không muốn con mình nhận tình thương kiểu bố thí. Rồi anh học cách im lặng hơn. Anh phụ bà Sáu gánh rau, sửa hàng rào, đóng lại cái ghế gãy. Mít dần gọi anh là ba. Bắp vẫn lạnh lùng, cho đến một chiều bị bạn trêu, nó ngồi khóc bên bờ mương. Nam ngồi cạnh, nói rất khẽ: “Ba xin lỗi vì để con phải lớn lên trong những lời đó.”
Tối hôm ấy, Mít lên cơn hen nặng. Nam bế con chạy đến trạm xá, áo ướt sũng, chân lấm bùn. Khi Mít mở mắt, con bé nắm cổ áo anh thì thào: “Ba đừng đi nữa.”
Nam bật khóc.
Sau hôm đó, anh quay về thành phố điều tra lại chuyện cũ. Anh gặp chị Thảo kế toán, anh Nghĩa kỹ thuật, bác sĩ Sơn. Từng mảnh sự thật hiện ra. Tài khoản của tôi bị giả mạo. Hồ sơ bị sao chép từ máy trong phòng họp. Người nâng giá nguyên liệu, bán thông tin cho đối thủ, rồi đổ tội cho tôi chính là Đức Vinh.
Và trong két sắt của hắn, Nam tìm thấy……………………………
lá thư năm xưa của tôi.
Nam mang lá thư về nhà cũ, nơi từng lập bàn thờ cho tôi. Bà Xuân ngồi trên ghế, mặt tái đi khi thấy tôi đứng ngoài hiên. Tôi không bước vào. Tôi không muốn một lần nữa phải đứng giữa căn phòng ấy để người ta phán xét mình.
Nam đặt bằng chứng lên bàn. Đức Vinh im lặng. Sự im lặng ấy đủ nói tất cả.
Rồi Nam quay sang mẹ: “Hôm bệnh viện gọi, có phải mẹ nghe máy không?”
Bà Xuân khóc. Bà gật đầu.
“Mẹ biết con bé còn sống. Mẹ biết nó mang thai. Nhưng mẹ sợ mất mặt, sợ công ty sụp, nên mẹ tắt máy.”
Không ai nói gì. Tôi đứng ngoài hiên, nhìn khói nhang từ bàn thờ cũ bay lên. Di ảnh của tôi vẫn còn đó. Một người đang sống mà từng bị chính gia đình chồng chôn trong im lặng.
Nam nói khàn đi: “Con không mất vợ vì tai nạn. Con mất vợ vì chính gia đình mình.”
Tôi quay mặt đi. Không phải vì còn giận dữ, mà vì có những nỗi đau qua lâu rồi, nước mắt cũng cạn.
Sau đó, Đức Vinh bị xử lý theo pháp luật. Công ty gửi thư xin lỗi chính thức. Nam công khai trả lại danh dự cho tôi. Nhưng anh hiểu, sự thật không thể tự biến thành tha thứ.
Bà Xuân xuống huyện nhiều hơn. Bà quét sân, nhặt rau, nấu cháo cho Mít mỗi khi trở trời. Một hôm bà nói: “Con chưa gọi lại tiếng mẹ cũng không sao. Bác chỉ mong được bù đắp chút nào hay chút đó.”
Tôi không đáp. Nhưng hôm ấy, tôi để bà ngồi cạnh mình lâu hơn.
Nam không ép tôi về biệt thự. Anh mở một điểm thu mua rau trong xóm, mua đúng giá cho bà con. Anh làm thủ tục nhận cha con, nhưng để tôi và hai đứa nhỏ tự quyết. Bắp vẫn ít nói, nhưng một bữa cơm, thằng bé lặng lẽ gắp miếng cá ngon nhất vào bát anh. Nam cúi đầu, mắt đỏ hoe.
Tối đó, nhà mất điện. Cả bốn chúng tôi ngồi quanh mâm cơm dưới ánh đèn sạc. Canh rau, trứng rán hơi cháy, cá kho mặn. Mít bắt Nam bóc tôm, Bắp ngồi nhìn như kiểm tra xem anh có còn ở đó không.
Tôi nhìn ba cha con, lòng nhói lên.
Tôi không biết sau này mình có thể gọi đó là gia đình trọn vẹn nữa không. Có những vết nứt dù hàn lại vẫn còn dấu. Nhưng ít nhất, từ hôm ấy, không ai trong chúng tôi phải sống trong một lời nói dối nữa.
Và đôi khi, với một người từng bị bỏ lại như tôi, sự thật đến muộn vẫn còn hơn là không bao giờ đến.



