TҺăm Mộ Vợ, Bàпg Hoàпg TҺấү Haι Đứa Bé Ôm Mộ KҺóc… Bí Mật 8 Năm KҺιếп CҺồпg CҺết Lặпg…

TҺăm Mộ Vợ, Bàпg Hoàпg TҺấү Haι Đứa Bé Ôm Mộ KҺóc… Bí Mật 8 Năm KҺιếп CҺồпg CҺết Lặпg…
Tôi là Hoàng Gia Bảo. Chiều 26 tháng Chạp năm ấy, Sài Gòn se lạnh, gió heo may thổi qua nghĩa trang Bình Hưng Hòa cũ. Tôi dừng xe trước cổng, tay ôm bó huệ trắng và hộp xôi đậu xanh còn nóng hổi. Năm nào cũng vậy, gần Tết là tôi lại ra thăm vợ. Nguyễn An Nhiên mất đã tám năm. Trong mắt người đời, tôi là tỷ phú 40 tuổi, chủ doanh nghiệp kho vận lớn, nhà cao cửa rộng, xe sang. Mẹ tôi, bà Lệ Xuân, một tay giữ nền nếp nhà họ Hoàng sau khi cha mất. Nhưng có những căn nhà sáng đèn mà lạnh tanh như không có bếp lửa. Có những người đàn ông mặc sơ mi phẳng phiu ngồi họp bàn tiền tỷ, tối về chỉ biết nhìn một khung ảnh cũ đến đau mắt.
Tôi bước chậm qua hàng mộ. Đến trước mộ An Nhiên, tôi khựng lại. Di ảnh cô vẫn hiền lành như ngày nào. Tôi đặt bó huệ xuống, mở hộp xôi, lau nhẹ tấm bia mộ. “Nhiên à, anh tới rồi.” Giọng tôi khàn đặc. Đúng lúc cúi đầu châm nhang, phía sau vang lên tiếng sụt sịt nhỏ. Ban đầu tôi tưởng gió, nhưng rồi giọng trẻ con nghẹn ngào cất lên: “Mẹ ơi, con không có tiền mua hoa, chỉ có hai viên kẹo thôi, mẹ đừng buồn nha.”
Tay tôi khựng giữa không trung. Quay lại, cách vài bước, hai đứa trẻ đang quỳ trước mộ vợ tôi. Bé gái gầy gò chừng tám tuổi, áo len hồng sờn cổ, đặt hai viên kẹo cứng xuống chân mộ. Bên cạnh là bé trai cao hơn chút, tóc cắt nham nhở, áo khoác bạc màu, dép nhựa mòn lệch. Thằng bé cúi đầu, tay nắm chặt trắng bệch: “Mẹ ơi, năm nay chỗ cũ người ta đuổi rồi, con chưa biết đưa em đi đâu, nhưng mẹ yên tâm, con không để em đói đâu.”
Tôi lạnh dọc sống lưng. Không chỉ vì hai tiếng “mẹ ơi”, mà vì khuôn mặt thằng bé – vầng trán, khóe mắt, xoáy tóc gần thái dương – giống tôi hồi nhỏ đến mức tim như bị bóp nghẹt. Bé gái thì đôi mắt buồn và nét môi mím lại, rõ ràng là bóng dáng An Nhiên. Tôi bước tới: “Hai đứa là ai?”
Bé gái giật mình nép sau lưng anh. Thằng bé đứng phắt dậy, giang tay chắn trước em, mắt nhìn tôi đầy cảnh giác như chim non bị ném đá nhiều lần: “Ông đừng lại gần em tôi.”
Tôi hạ giọng: “Chú không làm gì hai đứa. Chú chỉ hỏi sao hai đứa gọi người trong mộ này là mẹ?” Bé gái ló mặt ra, mắt đỏ hoe: “Đây là mẹ con. Bà Năm nói mẹ con ngủ ở đây. Mỗi năm gần Tết tụi con tự tới thăm mẹ.”
Lúc đó tôi không hề biết rằng, sự thật phía sau hoàn toàn khác với tất cả những gì tôi tin tám năm qua. Tai tôi ù đi, hàng mộ trước mặt nhòe nhoẹt. Một bên là bó huệ đắt tiền của người chồng giàu có, một bên là hai viên kẹo cứng của hai đứa con nghèo. Cổ họng tôi nghẹn lại.
Từ lối đi lát đá, tiếng dép chạy vội vang lên. Một người đàn bà tóc bạc quá nửa, vai gầy, mặc áo bà ba nâu cũ hớt hải lao tới. Vừa thấy tôi, bà đứng sững, túi vải rơi phịch xuống đất. “Cậu… cậu Bảo…”
Tôi nhận ra ngay: cô Nam Hạnh, người giúp việc cũ từng chăm sóc An Nhiên. Sau đám tang bà biến mất không lời từ biệt. Bà Nam Hạnh vội kéo hai đứa trẻ: “An Khôi, An Vi, đi với bà mau lên con.” Tôi bước tới, mắt đỏ ngầu: “Cô Năm, tám năm nay cô đi đâu? Hai đứa trẻ này rốt cuộc là ai?”
Bà Nam Hạnh run bắn, hai đứa trẻ bám chặt áo bà. Gió cuối năm thổi qua làm bó huệ trắng rung rinh. Tôi nhìn bà, từng chữ nặng trĩu: “Cô nói rõ đi.” Bà quỳ sụp trước mộ An Nhiên, ôm mặt khóc nghẹn: “Cô xin lỗi con Nhiên ơi, cô giấu không nổi nữa rồi.”
Nhưng lúc đó tôi không hề biết rằng, bí mật tám năm sẽ khiến cả đời tôi sụp đổ.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY
👇👇👇
……………………………………………
Bà Nam Hạnh ngồi bệt xuống bên mộ, hai tay gầy guộc siết chặt. Tôi đứng im, không giục. Có những sự thật càng ép càng dễ vỡ. Bà hít sâu: “Đêm đó mưa dữ lắm cậu Bảo à. Cô Nhiên sinh ở bệnh viện tư bên Tân Bình, bác sĩ Cao Minh Đạt. Cô ấy sinh được hai đứa. Thằng Khôi khóc to, con Vi yếu hơn nhưng vẫn khóc. Tôi ôm rõ trong tay, tôi không điên đâu cậu.”
Tôi ôm đầu, cổ nổi gân: “Vậy sao bệnh viện báo cả mẹ lẫn con đều mất? Mẹ tôi lo tang lễ, giấy tờ đầy đủ.”
Bà Nam Hạnh nhìn xuống đất: “Vì có người không muốn cậu biết. Bà Lệ Xuân biết hai đứa còn sống. Bà nói An Nhiên hiền nhưng không đủ tầm làm dâu họ Hoàng. Nếu nhận hai đứa, cậu sẽ bị chói cả đời vào gốc nghèo. Tài sản, cổ phần, danh tiếng sẽ rối tung. Bà dúi tôi túi tiền, bảo đem hai đứa đi thật xa.”
Tôi gục xuống, vai run lên. An Vi nép vào bà Năm, An Khôi siết tay em. Bà kể tiếp từng chi tiết đau đớn: đêm mưa chuyển viện không báo tôi, cuộc gọi khẩn từ Trịnh Văn Khoa kéo tôi ra cảng, hồ sơ bị chỉnh sửa, giấy tờ chứng sinh bị giấu. Cô Nhiên trước khi mất còn nắm tay bà Năm hỏi: “Anh Bảo tới chưa?” Bà nói dối để cô yên lòng.
Tôi khóc như chưa từng khóc sau tám năm. Hai đứa trẻ – con ruột tôi và An Nhiên – đã sống tám năm trong trốn chạy, phòng trọ ẩm thấp, gầm cầu, bị đuổi vì thiếu tiền. An Khôi bốn tuổi đã canh cháo cho em, sáu tuổi nhặt ve chai mua dầu gió. An Vi yếu, hay sốt, đêm nào cũng khiến thằng bé sợ em chết giống mẹ.
Tôi đưa ba bà cháu về căn nhà vùng ven Bình Chánh tôi từng mua làm kho tạm. Không sang trọng, nhưng an toàn. Đêm đó An Vi sốt cao, tôi luống cuống nấu cháo khét, bị An Khôi hất đổ: “Ông làm gì em tôi vậy?” Tôi ngồi bệt xuống nền xi măng, xin lỗi con trai: “Ba chưa biết làm ba, ba vụng về, nhưng ba muốn học. Cho ba học được không?”
Từ đó, mọi thứ thay đổi. Tôi bỏ nhà lớn, đối đầu mẹ, Thảo Mi và Khoa. Họ dùng báo chí, cắt quyền điều hành, dọa dẫm nhân chứng. Nhưng nhờ ông Ba Dưỡng ở bến hàng, cô Hạnh Dung, anh Tư Dạng, chị Bích Thủy, ông Tánh… sự thật dần lộ ra. Kết quả ADN, sổ trực photo, thư cũ của An Nhiên, phiếu lưu hồ sơ – tất cả ghép lại.
Tôi quét kho, vác gạo cùng công nhân, vá dép cho con trai, lau người cho con gái khi sốt. An Khôi ban đầu vẫn gọi “ông”, nhưng dần để tôi xách cặp, khâu dép, rửa chân. An Vi gọi “ba” đầu tiên trong cơn khó thở đêm mưa ở phòng khám nhỏ. Tiếng “ba” yếu ớt ấy như cứu tôi khỏi tám năm địa ngục.
Một năm sau, hai con có giấy khai sinh. Chúng được học đàng hoàng, được thương mà không sợ bị bỏ rơi. Bà Lệ Xuân suy sụp, phải đối diện sai lầm. Tôi không hận, nhưng tôi chọn sống khác – minh bạch hơn, cúi xuống hơn. Tập đoàn vẫn chạy, nhưng tôi mở quỹ giúp trẻ thiếu giấy tờ, hỗ trợ lớp tình thương.
Chiều cuối năm ấy, chúng tôi ra mộ An Nhiên đông đủ. An Khôi đặt vở mới và giấy khen, An Vi đặt hoa nhài. Tôi đặt hộp xôi đậu xanh: “Nhiên à, anh đưa các con về rồi. Không phải căn nhà lạnh, mà nơi có người thương thật lòng. Anh xin lỗi vì đến muộn, nhưng từ nay anh ở lại.”
Gió thổi khói nhang nghiêng nghiêng. Hai viên kẹo năm xưa không còn, nhưng vị ngọt nghèo khó mà chân thành vẫn ấm trong tim tôi. Cuộc đời dạy tôi: giàu sang mà mất nhân nghĩa thì nhà rộng cũng lạnh. Nghèo mà giữ được lòng tốt thì vẫn che chở được nhau. Trẻ con không nên trả nợ lỗi lầm người lớn. Mỗi đứa trẻ đều xứng đáng có tên, có cha, có tình thương đàng hoàng.
Tôi nhìn hai con, nước mắt lặng lẽ rơi. Tám năm rối ren, cuối cùng cũng trôi qua như giấc mộng dài. Giờ đây, bên mộ vợ, tôi mới thực sự tìm thấy gia đình.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!