Tướng lục quân Mỹ bất ngờ phát biểu về bộ đội VN, khiến cả thế giới chấn động….

Tướng lục quân Mỹ bất ngờ phát biểu về bộ đội VN, khiến cả thế giới chấn động….

Tôi là Lê Văn Hòa, năm ấy mới hai mươi sáu tuổi. Đêm 14 tháng 10 năm 1969, tim tôi đập thình thịch như muốn vỡ tung trong lồng ngực khi sáu chúng tôi lặn sâu dưới sông Vàm Cỏ Đông. Nước lạnh buốt cắt da cắt thịt, bùn đặc quánh bám đầy người như muốn kéo tôi xuống địa ngục. Tôi là trung úy, đội trưởng đặc công B12. Lệnh trên giao: phá hủy căn cứ nổi của Mỹ – nơi họ tưởng rằng bất khả xâm phạm.
Mùi bùn tanh nồng xộc lên mũi, hòa với vị mặn của nước sông và mồ hôi lạnh toát trên trán. Tay tôi run run vì lạnh, nhưng tôi siết chặt dao găm sau lưng. Bên trên đầu, đèn pha quét qua quét lại như lưỡi hái tử thần. Tiếng chó nghiệp vụ sủa inh ỏi, tiếng giày đinh lính Mỹ dẫm trên boong tàu ken két. Chỉ một tiếng động nhỏ thôi là chúng tôi chết chắc.
Bảy Gân bơi sát bên tôi, thì thầm qua ống thở tre: “Không chết dưới súng thì cũng chết dưới mõm chó tụi Mỹ.” Giọng hắn run run, không phải vì sợ mà vì lạnh. Tôi không đáp, chỉ gật đầu. Lúc đó tôi đâu biết, chính những đêm như đêm ấy sau này sẽ khiến một vị tướng Mỹ phải cúi đầu thừa nhận sức mạnh của những người lính Việt Nam.
Trong đầu tôi lúc ấy chỉ toàn hình ảnh vợ con. Nhà tôi ở miền Tây, mái tranh vách đất, vợ đang mang thai đứa con thứ hai. Nếu tôi chết đêm nay, con tôi sinh ra sẽ không có cha. Tim tôi thắt lại, nghẹn họng đến mức tưởng không thở nổi. Nhưng nhiệm vụ là trên hết. Chúng tôi chỉ có dao, thuốc nổ C4 và ý chí.
Chúng tôi chia tổ. Tôi cùng Út Thép và Bảy Gân lao vào trung tâm chỉ huy. Tư Tôm, Minh Lạc, Chín Nhỏ hướng về kho nhiên liệu. Đồng hồ dạ quang chỉ 2 giờ 45. Phải đặt xong, rút lui im lặng như bóng ma.
Mỗi nhịp bơi dưới nước nặng trịch như kéo cả thân xác qua lò luyện ngục. Tiếng tuần tra Mỹ vang vọng trên đầu. Một con chó sủa to hơn. Đèn pin quét sát mặt nước. Tôi nín thở đến mức phổi như muốn nổ tung. Cái lạnh buốt sống lưng khiến cơ thể tôi tê dại. Một giây, hai giây… đèn tắt. Tôi trườn lên, gắn gói C4 vào khớp nối sắt. Bảy Gân ấn nam châm, vặn hẹn giờ. Bên kia, Minh Lạc đã luồn vào kho dầu.
Mọi thứ diễn ra trong im lặng chết chóc. Nhưng rồi một lính Mỹ phát hiện Minh Lạc. Hắn vừa mở miệng, dao của Minh Lạc đã lướt qua cuống họng. Máu nóng phun ra, mưa cuốn trôi hết. Mùi máu tanh nồng hòa với mùi dầu và bùn khiến tôi buồn nôn.
Chúng tôi rút lui. Nhưng mắt điện tử đã quét trúng Bảy Gân. Còi báo động rú lên kinh hoàng. “Intruder detected!” Đèn pha sáng rực cả khúc sông. Tiếng súng AK và M16 vang trời. Tôi quát khẽ: “Pháo sáng!” Út Thép ném hai quả pháo hiệu tự chế. Ánh sáng đỏ lòe lên, soi sáng cả mặt sông như ban ngày.
Chúng tôi lặn sâu. Đạn vèo vèo trên đầu. Một viên sượt qua vai tôi, nóng rát như lửa đốt. Máu nóng chảy ra hòa với nước lạnh. Đau đến mức tôi cắn chặt môi đến bật máu. Chúng tôi bơi ngược dòng gần bốn cây số, người tím bầm, oxy trong ống thở cạn kiệt. Phổi tôi như cháy bỏng, tầm nhìn mờ đi vì thiếu oxy.
Đúng 2 giờ 45, cả sông bùng nổ. Kho dầu cháy rực, cầu phao sập đổ, trung tâm chỉ huy tan tành. Lửa đỏ rực một góc trời. Chúng tôi nằm im trong bùn rừng tràm, mắt đỏ hoe, không phải vì khói mà vì sống sót. Nước mắt tôi lăn dài, nóng hổi giữa cái lạnh buốt của đêm rừng.
Nhưng chiến công đêm ấy chỉ là mở đầu.
Sau trận đó, chúng tôi án binh mười bốn ngày trong rừng. Muỗi đốt, sốt rét hành hạ. Tôi nằm nghĩ về mẹ già ở quê, về vợ đang chờ tin chồng. Mỗi đêm, ký ức ùa về như sóng dữ: tiếng cười của vợ ngày cưới, mùi cơm lam mẹ nấu, tiếng khóc oe oe của con gái đầu lòng. Tim tôi đau nhói. Liệu tôi có còn về được không?
Rồi cán bộ liên lạc mang đến nhiệm vụ mới: bắt sống tướng Harold M. Grant – chỉ huy biệt kích Mỹ. Nhiệm vụ gần như tự sát.
Chúng tôi lại lặn dưới kênh Bầu Rơi, trườn qua bùn lầy tanh nồng, gỡ chìa khóa từ lính gác, luồn vào lán chỉ huy. Harold đang ngủ say. Minh Lạc chói tay ông ta, tôi bịt miệng. Thuốc mê xịt vào. Rút lui trong mưa đạn. Một đồng đội suýt trúng đạn, tôi kéo hắn lại, vai tôi lại thêm một vết thương mới.
Chúng tôi giấu ông trong hang đá giữa rừng ngập mặn. Harold tỉnh dậy, mắt hoảng loạn: “Các anh là ai? Sao không giết tôi?” Tôi đáp bằng tiếng Anh: “Ông là tù binh. Chúng tôi không tra tấn.” Ông ta cười nhạt, nhưng dần dần thay đổi. Sau hai ngày, ông hỏi: “Ai dạy các anh chiến tranh như vậy?” Bảy Gân cười: “Tự học. Vừa đánh vừa rút kinh nghiệm.”
Tôi đưa ông cuốn sổ tay của một lính Mỹ đã chết trước đó. Harold đọc, thở dài thườn thượt. Ông viết thư cam kết trao đổi tù binh. Chúng tôi đưa thư qua cụ già mù chạy giao liên. Đêm trao đổi ở cửa Tiểu, cả hai bên đều có bắn tỉa phục kích. Tim tôi đập loạn. Một sai lầm nhỏ là cả đội tan xương.
Nhưng Harold đứng dậy hô to: “Lui lại! Đây là mệnh lệnh!” Ông ta được trao về, chúng tôi nhận lại đồng đội.
Trước khi chia tay, Harold nhìn tôi, mắt đỏ hoe: “Các anh không phải bóng ma. Các anh là những người biết chiến đấu và tha thứ.”
Tôi không quay đầu. Chỉ siết chặt tay Chín Nhỏ chèo xuồng. Nước mắt tôi lăn dài, không phải vì vui mừng, mà vì nỗi day dứt của một người lính…………..Hai tuần sau, chúng tôi lại nhận lệnh….
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó.
 phá tuyến tiếp tế trên sông Mang Thít. Lần này quy mô lớn hơn rất nhiều. Tôi chia đội ba ngả. Áp sát tháp canh, khống chế lính gác, phá hệ thống liên lạc. Tư Tôm lặn dưới đáy xà lan gắn mìn. Khi lính Seal nhảy xuống nước tìm chúng tôi, mìn nổ tung. Nước đỏ máu. Bảy Gân bắn pháo sáng, mìn claymore gầm vang từ bờ. Cả đoạn sông dài hai cây số cháy suốt tám tiếng. Hơn 200 tấn vũ khí chìm xuống đáy sông.
Sáng hôm sau, đài Giải phóng đưa tin. Báo Mỹ gọi là “Inferno on Mekong”. Chúng tôi về căn cứ tạm ở Cù Lao, ai nấy mệt lả nhưng miệng vẫn cười. Tư Tôm nằm ngửa: “Tụi nó không gọi mình là bóng ma nữa. Gọi là ác thần rồi.”
Chiến tranh không tha cho ai. Chúng tôi chia tay nhau rút lui. Mỗi người một hướng. Không ai nói lời tạm biệt. Chỉ có gió sông và bùn lầy chứng kiến những giọt nước mắt lặng lẽ. Tôi ôm vai Bảy Gân lần cuối, cảm nhận hơi ấm của người anh em. Biết đâu đây là lần cuối.
Một năm sau, tôi nhận tin tàu LST 7235 của Mỹ rút quân. Đêm cuối, tám người chúng tôi lặn dưới tàu, không súng, chỉ mang lá cờ đỏ sao vàng may bằng tay từ những mảnh vải áo bà ba cũ. Chúng tôi treo cờ lên mũi tàu ngay giữa bến Nghé. Sáng hôm sau, lính Mỹ sốc nặng khi thấy cờ Việt Nam bay phấp phới. Báo New York Herald đưa tin nhỏ: “Lá cờ không rõ danh tính xuất hiện như thông điệp chia tay.”
Tôi trở về quê. Cuộc sống sau chiến tranh khó khăn vô cùng. Vợ tôi sinh con trai trong lúc tôi vắng nhà. Nhà cửa tan hoang vì bom đạn. Tôi làm ruộng, sửa chữa những vết thương cũ. Chín Nhỏ mở xưởng đóng thuyền. Bảy Gân cưới vợ. Tư Tôm trồng rau nuôi cá, thỉnh thoảng hát vọng cổ buồn da diết bên sông.
Còn tôi, mỗi năm lại về bến Đước, nơi chôn bức thư của Harold Grant. Dưới gốc đước già, tôi dựng miếu nhỏ với phiến đá khắc: “Nơi đây từng có những người sống dưới bùn, chiến đấu như lửa và rút lui trong im lặng như gió.”
Hôm nay, tóc tôi đã bạc trắng. Cháu nội hay ngồi bên tôi dưới hiên nhà tranh, hỏi chuyện xưa. Tôi kể cho cháu nghe, không phải để khoe chiến công, mà để cháu biết ông nội từng là một trong những “bóng ma dưới nước”. Để cháu hiểu vì sao hôm nay mình được yên bình ngồi đây ăn cơm với gia đình, với tiếng cười trẻ con vang vọng.
Tôi không hận. Chiến tranh đã qua rất lâu. Nhưng những đêm sông Vàm Cỏ, những lần lặn dưới Mang Thít, những ánh mắt của Harold Grant trước khi chia tay… vẫn còn nguyên vẹn trong tim tôi. Người Mỹ từng có vũ khí hiện đại nhất thế giới, bom đạn nhiều gấp bội, nhưng họ thua. Không phải vì vũ khí kém, mà vì họ thua ý chí của những người lính Việt Nam – những người nông dân khoác áo lính, chỉ muốn giữ mảnh đất quê hương.
Có lần cháu nội hỏi: “Ông ơi, ông sợ không?” Tôi cười, vuốt mái tóc cháu, nước mắt lặng lẽ rơi: “Sợ chứ con. Sợ chết. Sợ không về được với bà nội và các con. Nhưng sợ hơn là để mất nước, mất quê hương.”
Giờ ngồi đầu hè nhìn cháu chơi đùa, tôi hay nghĩ về những người đồng đội đã nằm lại. Bảy Gân mất năm 1972. Chín Nhỏ hy sinh ở Khe Sanh. Họ không về được. Nhưng chính họ, và hàng triệu người như họ, đã khiến cả thế giới phải cúi đầu.
Tôi không cần ai ca ngợi. Chỉ mong thế hệ sau đừng quên. Đừng quên máu đã đổ trên sông, đừng quên những đêm không ngủ dưới bùn, đừng quên rằng bình yên hôm nay là nhờ những người từng sống như bóng ma dưới nước.
Và đôi khi, trong giấc mơ, tôi vẫn nghe tiếng nổ trên sông Mang Thít, vẫn thấy lá cờ đỏ bay giữa bến Nghé. Tôi tỉnh dậy, mỉm cười, vuốt vai mình – nơi vết sẹo từ viên đạn năm xưa vẫn còn nhức nhối khi trời mưa. Đó là minh chứng. Tôi đã sống. Và quê hương vẫn còn.
Câu chuyện này được viết với tất cả sự trân trọng dành cho những người lính đã ngã xuống vì độc lập dân tộc……
Lưu ý: Nội dung sau đây là hư cấu, được xây dựng nhằm mục đích giải trí, truyền tải thông điệp và lên án hành vi tiêu cực. Mọi nhân vật, tình huống đều mang tính minh họa, không phản ánh hay quy chụp bất kỳ cá nhân, tổ chức nào ngoài đời thực. Nội dung không cổ xúy bạo lực hoặc kích động thù hằn, mong khán giả đón nhận với tinh thần chọn lọc và tích cực.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!