7 Năm Sau Khi Đuổi Vợ Cũ Ra Khỏi Nhà, Tôi Gặp Lại Cô Ấy Bán Chè Dưới Gốc Đa – Nhìn Đứa Trẻ 6 Tuổi, Tôi Chết Lặng Khi Nhận Ra Sự Thật…

7 Năm Sau Khi Đuổi Vợ Cũ Ra Khỏi Nhà, Tôi Gặp Lại Cô Ấy Bán Chè Dưới Gốc Đa – Nhìn Đứa Trẻ 6 Tuổi, Tôi Chết Lặng Khi Nhận Ra Sự Thật…

Tôi ngồi im trong xe khi chiếc xe đầu tiên của đoàn giảm tốc dưới gốc đa cổ thụ. Phía trước, vài người đàn ông uống nước, mấy bà ngồi tránh nắng. Rồi mắt tôi dính chặt vào người phụ nữ đang cúi bên chiếc nồi nhôm lớn. Nguyễn Thu Duyên. Người vợ cũ đã rời khỏi nhà họ Lê gần bảy năm trước.

Cô mặc áo hoa xanh bạc ở khuỷu tay, tóc búi gọn, gương mặt không còn non trẻ nhưng đôi mắt vẫn hiền. Mẹ tôi hạ kính xe xuống, giọng khinh: “Tôi cứ tưởng bảy năm rồi cô phải đổi đời thế nào, hóa ra vẫn quanh quẩn dưới gốc đa bán từng bát chè.”

Duyên đặt chiếc môi xuống. Cô không cúi đầu, cũng không nổi giận: “Cháu bán chè bằng tiền công sức của mình, một bát lời vài nghìn cũng là tiền sạch bác ạ.”

Đúng lúc ấy tiếng trẻ con vang lên. “Mẹ ơi!” Một cậu bé khoảng sáu tuổi đeo cặp xanh chạy lại. Cậu dựng cặp xuống ghế, chạy ra vòi nước rửa tay rồi khoanh tay: “Cháu chào bà ạ. Cháu chào chú.”

Tôi đang định gật đầu thì bất giác khựng lại. Cái cằm ấy, đôi mắt ấy, cả cái cách cậu bé mím chặt môi khi cố bê chồng cốc. Một thói quen rất nhỏ mà hồi trẻ tôi cũng thường có. Tôi nhìn thêm lần nữa. Mẹ cũng nhìn thấy nhưng chỉ vài giây sau đã quay mặt đi: “Con cô à?”

Duyên đặt tay lên vai cậu bé: “Vâng, con cháu.”

Tôi bảo tài xế đi tiếp. Xe lăn bánh. Qua kính chiếu hậu, gốc đa cùng quán chè nhỏ lùi dần. Tôi tự nhủ trên đời thiếu gì trẻ con có vài nét giống nhau. Nhưng đến lúc xe rẽ qua đầu đình, tôi vẫn quay lại nhìn cậu bé đang đứng bên mẹ. Trong lòng nhói lên một cảm giác rất lạ, giống như một người vừa đi ngang qua cánh cửa đã tự tay đóng lại từ rất lâu.

Tôi tên Lê Đức Vinh, bốn mươi hai tuổi. Hai mươi năm trước tôi đi trên con đường này với chiếc xe đạp cũ và túi vải đựng vài bộ quần áo. Bây giờ tôi có đoàn xe tải, kho hàng, nhà riêng ở Hà Nội. Chỉ có một thứ càng ngày càng ít đi: những lần trở về quê.

Mẹ tôi muốn sửa từ đường họ Lê cho ra tấm ra món. Tôi chuyển ba trăm hai mươi triệu cho anh họ Lê Văn Quý lo phần đất ngoài ngõ. Quý hơn tôi ba tuổi, từng lên Hà Nội làm việc với tôi rồi về quê. Tôi tin người nhà.

Từ đường nằm cuối con ngõ. Cụ Bách bảy mươi tư tuổi chống gậy đi ra, giọng vẫn sang sảng. Khi thợ cần mở gian ngang, chìa khóa lại không có. Cụ Bách bình thản: “Ra gọi con Duyên.”

Không khí ngoài sân như hụt mất một nhịp. Mẹ tôi quay phắt lại: “Bác vừa bảo gọi ai? Nó ly hôn thằng Vinh bảy năm rồi. Nó còn là người họ Lê đâu mà giữ chìa khóa nhà thờ tổ?”

Cụ Bách chống gậy đứng thẳng hơn: “Không còn là dâu thì đúng, nhưng giữ chìa khóa để quét dọn hương khói là chuyện khác.”

Chưa đầy mười phút sau Duyên xuất hiện, trên tay cầm chùm chìa khóa nhỏ. Cô mở gian ngang rồi định bước ra. Mẹ không nhịn được: “Cô giải thích cho tôi xem tại sao chìa khóa từ đường họ Lê lại nằm trong tay cô?”

Duyên im lặng vài giây: “Cháu giữ một bộ để tiện quét dọn hương khói. Việc này bác Bách và các cụ trong họ đều biết. Cháu chưa từng nói mình còn là con dâu.”

Cụ Bách nhìn tôi: “Chú có tiền sửa được mái nhà này, đấy là việc tốt. Nhưng mấy năm cha chú còn sống, người sang quét cái sân, nấu bát cháo khi ông ốm, nhiều khi lại là đứa đã bị nhà chú đẩy ra ngoài.”

Tôi cúi mắt. Duyên giao chìa khóa cho thợ rồi khẽ nói với tôi: “Anh đứng tránh một chút, chỗ này nền bị lún.” Chỉ một câu rất bình thường nhưng tôi bất giác nhìn xuống bàn tay cô. Những ngón tay thon gầy ấy khiến tôi nhớ đến một đêm mưa bên chiếc xe tải cũ chết máy giữa đường. Cũng đôi bàn tay ấy từng cầm đèn pin soi cho tôi sửa xe đến quá nửa đêm.

Sáng hôm sau tiếng động cơ máy xúc gầm lên trước nhà bà Mùi. Quý chỉ đạo phá hàng rào để mở rộng đường. Bà Mùi tái mặt: “Tôi chưa cầm của anh đồng nào.” Duyên được gọi tới. Cô chỉ hỏi: “Bác đã ký giấy chuyển nhượng hay giấy nhận tiền gì chưa?” Bà Mùi lắc đầu.

Quý rút tờ giấy nhận tiền ba trăm hai mươi triệu có chữ ký của bà Mùi. Tôi nhận tờ giấy đọc kỹ rồi hỏi: “Bác Mùi đã nhận tiền mà giờ lại đổi ý à?” Bà Mùi từ trong sân bước ra, giọng run: “Tôi chưa nhận một đồng nào của các anh.”

Duyên nhìn tôi rất lâu: “Bảy năm rồi mà anh vẫn thế. Anh vẫn nhìn một tờ giấy trước rồi nhìn con người sau.”

Bà Mùi đeo kính nhìn chữ ký: “Không phải chữ của tôi. Chữ tôi có cái móc cuối kéo xuống.”

Hai cán bộ xã tới, yêu cầu dừng máy. Tôi quay sang Quý: “Ba trăm hai mươi triệu em chuyển cho anh, hiện đang ở đâu?”

Quý mím môi. Trong khoảnh khắc ấy, lần đầu tiên từ ngày về quê, tôi không còn thấy trước mặt mình là một chuyện phiền phức cần dùng tiền giải quyết. Tôi bắt đầu thấy một cái bóng rất cũ từng phủ lên cuộc hôn nhân của tôi suốt bảy năm.

……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

TẠI ĐÂY 👇👇👇

Tôi nhớ lại năm 2001. Tôi hai mươi tám tuổi, vừa cưới Duyên chưa đầy nửa năm. Tài sản đáng giá nhất là chiếc xe tải cũ mua trả góp. Đêm ấy xe chết máy giữa đường. Tôi chui xuống gầm gần hai tiếng mà máy không nổ. Duyên ngồi bên vệ cỏ cầm đèn pin soi. Tôi bực: “Mai đến hạn trả tiền xe rồi.” Duyên tháo đôi bông tai vàng mẹ đẻ cho ngày cưới đặt vào lòng bàn tay tôi: “Mai anh đem bán.” Tôi đẩy tay cô lại. Cô cười nhẹ: “Thiên hạ có đổ dầu vào xe cho mình đâu mà sợ thiên hạ cười.”

Đêm ấy chúng tôi ăn cơm nắm với muối vừng. Sáng hôm sau vàng được bán, xe được sửa. Từ đó công việc nhích lên. Duyên ghi sổ từng chuyến xe, nấu cơm cho tài xế, tự bắt xe khách lên Hà Nội đòi nợ. Những năm ấy bữa cơm chỉ có rau muống luộc và cá kho nhưng tiếng cười lúc nào cũng đầy căn bếp. Tôi từng đáp rất nhanh khi mẹ nhắc: “Con quên ai chứ sao quên được Duyên.”

Từ năm 2004 công việc đổi khác. Tôi mua thêm xe, thuê kho, nhận hợp đồng lớn. Mẹ lên Hà Nội sống cùng. Ánh mắt bà nhìn Duyên dần khác. Bà chê cô ít học, chê nhà ngoại nghèo, chê chuyện chưa có con. Thanh Mai, con gái bạn mẹ, xuất hiện ngày một nhiều. Một tối Duyên hỏi: “Anh có thấy mẹ đang cố ghép anh với Mai không?” Tôi cười: “Em nghĩ xa quá rồi.”

Cuối năm 2007 khoản thanh toán hai trăm sáu mươi triệu thiếu. Trên giấy xác nhận có chữ ký Thu Duyên. Mẹ ném tờ giấy xuống bàn: “Cô xem đi.” Duyên đọc xong: “Không phải chữ ký của con.” Mẹ cười lạnh: “Giống thế kia mà cô còn chối.” Tôi nhìn đồng hồ. Đối tác sắp tới. Tôi nói: “Em về quê vài hôm đi. Chuyện tiền để anh kiểm tra sau.”

Duyên nhìn tôi: “Anh cho em về quê để mọi chuyện yên. Hay anh cũng nghĩ em lấy tiền?” Tôi chỉ đáp: “Anh chưa biết.”

Duyên về quê. Ba tuần sau cô phát hiện mình mang thai gần sáu tuần. Cô lên Hà Nội đứng ngoài cổng công ty gần một tiếng. Tôi đang tiếp khách, bảo vệ báo. Tôi nói: “Bảo cô ấy về đi.” Vài ngày sau cô gửi thư. Mẹ tôi nhận được, đọc xong đặt vào đáy hộp rồi khóa lại.

Tháng năm 2009 Duyên sinh Minh Hiếu. Phần họ tên cha để trống. Cô dựng quán chè dưới gốc đa, nuôi con bằng những đồng tiền nhỏ. Ông Tấn, bố tôi, về quê nhiều hơn. Ông nhận ra đứa trẻ giống tôi, biết sự thật nhưng không ép. Ông dặn cụ Bách nhờ Duyên giữ chìa khóa từ đường.

Bây giờ, sau vụ máy xúc, tôi bắt đầu kiểm tra. Nhật ký camera và lời khai cho thấy Quý thuê người phá quán chè của Duyên để tìm giấy tờ. Tôi mở chiếc tráp của bố để lại. Trong sổ tay có dòng ghi đúng ngày tờ giấy hai trăm sáu mươi triệu xuất hiện: “Hôm nay Duyên đưa bà Sâm lên bệnh viện từ sáng. Tối gần tám giờ hai mẹ con mới về.”

Tôi tìm chị kế toán cũ. Chị nhớ Quý mang bộ chứng từ về hôm đó. Tài xế cũng nhớ Quý vào công trường lấy hồ sơ. Duyên lúc ấy đang ở bệnh viện với mẹ tôi.

Tôi gọi Thanh Mai. Cô thừa nhận năm xưa từng nghe mẹ tôi nói: “Chuyện tiền thật giả thế nào cứ tính sau. Nhưng có cái cớ để con Duyên đi thì cũng tốt.” Cô im lặng vì nghĩ nếu Duyên đi thì mình có cơ hội.

Tôi hỏi Duyên trực tiếp: “Hiếu có phải con anh không?” Cô đáp: “Phải.” Tôi làm xét nghiệm. Kết quả xác nhận. Mẹ tôi khóc: “Cuối cùng nhà này cũng có đích tôn.” Duyên hỏi: “Nếu hôm nay Hiếu là con gái, bác có khóc như thế không?”

Tôi muốn mua nhà, mở tài khoản cho con. Duyên lắc đầu: “Máu mủ chỉ chứng minh anh là cha nó. Muốn nó gọi anh là bố, anh phải sống cho ra một người bố.”

Quý bị lộ. Anh ta thừa nhận năm 2007 mượn tạm hai trăm sáu mươi triệu, giả chữ ký Duyên. Ba trăm hai mươi triệu đất cũng không đến tay bà Mùi. Sự thật được nói rõ trước họ hàng. Tôi xin lỗi Duyên trước mặt mọi người: “Anh có đủ điều kiện để kiểm tra cho rõ nhưng anh đã không làm.”

Duyên đáp: “Tôi nhận lời xin lỗi. Tôi chỉ cần mọi người biết một chuyện: tôi không lấy tiền.”

Tôi dừng việc phá từ đường. Chỉ sửa những gì cần. Phần đất bà Mùi không động vào. Tôi dành tiền sửa đoạn đường học sinh và lập quỹ khuyến học mang tên bố.

Một buổi chiều tôi vá xích xe đạp cho Hiếu bên lề đường. Cậu bé theo phản xạ nói: “Bố để con giữ cho.” Cả hai cùng khựng lại. Tôi cúi thấp đầu hơn, giả vờ chăm chú vào sợi xích, nhưng đôi mắt đã đỏ. Tôi chỉ đáp: “Ừ, con giữ giúp bố.”

Bên kia đường, dưới gốc đa, Duyên đang đứng bên nồi chè. Cô đã nghe thấy nhưng không chạy sang. Cô chỉ mỉm cười rồi tiếp tục múc chè cho khách. Phía xa mái từ đường cũ vừa sửa lại nằm yên dưới nắng cuối chiều. Không nguy nga, chẳng có tấm bia lớn nào khoe tên người bỏ tiền, nhưng sạch sẽ và vững vàng.

Tôi ngồi xổm bên chiếc xe đạp, dầu mỡ bám đen đầu ngón tay, nghe tiếng con gọi mình bằng hai tiếng bố lần đầu tiên sau bảy năm. Lòng nhẹ mà cũng đau. Có những khoảng cách không phải do người khác dựng lên. Chính mình đã từng bước một xây nó. Rồi đến ngày muốn quay lại mới phát hiện bức tường đã cao đến mức nào.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!