10 Năm Sau Ngày Vợ Mất Tích, Tôi Trở Về Và Chết Lặng Khi Thấy Hai Đứa Trẻ Gọi Mẹ Vợ Là “Ngoại

10 Năm Sau Ngày Vợ Mất Tích, Tôi Trở Về Và Chết Lặng Khi Thấy Hai Đứa Trẻ Gọi Mẹ Vợ Là “Ngoại

Tôi vừa bước qua cánh cổng sắt cũ thì chân khựng lại. Giữa sân, một cậu bé chừng mười hai tuổi đang cúi xuống buộc quai dép cho bà Xương. Cách đó vài bước, cô bé ôm rổ rau từ bếp chạy ra: “Ngoại ơi, anh An lại giấu kính của ngoại rồi.”

Tiếng “ngoại” bình thường ấy làm ngực tôi như bị bóp chặt. Cô bé quay mặt. Đôi mắt hơi cụp khi ngượng, môi mím nhẹ – đúng nét của Minh Thư mười năm trước. Cậu bé đứng thẳng. Vầng trán rộng, mày hơi xếch, cằm vuông nhỏ, thói quen nghiêng đầu khi nhìn người lạ. Giống hệt tôi trong ảnh năm mười hai tuổi mẹ vẫn giữ.

Cậu bước lên nửa bước, gần như vô thức đứng chắn trước bà Xương. “Chú tìm ai ạ?”

Tôi nhìn nó rất lâu. “Chú tìm bà Xương.”

Từ trong bếp bà bước ra, tóc bạc nhiều hơn ký ức, tay còn cầm bát men đựng hành. Bà nhìn tôi rồi nhìn hai đứa trẻ. Bát rơi xuống nền gạch choang một tiếng. “Duy, con về đấy à?”

Một tiếng “con” sau mười năm vừa gần vừa xa. Tôi muốn hỏi ngay hai đứa là ai nhưng thấy bàn tay bà run, tôi nuốt câu hỏi xuống, cúi nhặt mảnh bát.

Chỉ hơn nửa giờ trước tôi vẫn nghĩ điều khó nhất hôm nay là bước vào căn nhà có bàn thờ Minh Thư. Tôi đã nhầm.

Mười năm trước, Minh Thư đưa hai con mới hơn hai tuổi về Hải Hậu thăm mẹ. Chiều ấy tôi hứa xuống đón. Một lô hàng gặp trục trặc, đối tác dọa hủy hợp đồng. Tôi gọi: “Anh muộn mất.” Thư cười nhẹ: “Anh lo việc đi, mẹ con em tự về cũng được.” Đó là lần cuối tôi nghe giọng vợ bình thường.

Sau biến cố hôm ấy, Thư không trở về. Còn hai đứa nhỏ, tôi tin mình cũng mất chúng trong cùng một ngày. Từ đó tôi vùi mình vào công việc, từ những chuyến xe thuê gây dựng doanh nghiệp vận tải lớn. Không ai biết hai lần tôi lái xe gần tới Hải Hậu rồi quay đầu. Lần này đúng giỗ thứ mười của Thư, tôi không cho phép mình quay nữa.

Bà Xương rót nước. Hà Mi ngồi mép phản, lễ phép: “Chú là người quen của mẹ cháu ạ?” An liếc em như nhắc đừng hỏi nhiều. Bà cắt ngang: “Con uống nước đi, đi đường xa chắc mệt.”

Sự né tránh ấy làm nghi ngờ trong tôi lớn dần. Ngoài sân, nửa chiếc bánh kem đã xé mặt, hai cây nến số một và số hai cắm nghiêng. Hôm qua còn là sinh nhật hai đứa. Mười hai tuổi. Nếu còn sống, con trai và con gái tôi năm nay cũng đúng mười hai.

Đúng lúc đó ngoài cổng vang tiếng đàn bà: “Chị Xương có nhà không? Hôm nay mình nói cho xong chuyện tiền.” An lập tức đứng bật dậy, nét mặt không còn vẻ trẻ con mà là sự căng thẳng của đứa đã quá quen nhìn người lớn tới đòi nợ.

Một người phụ nữ áo khoác nâu bước vào cùng hai người làm, tay cầm túi hồ sơ dày. “Chị tính thế nào? Vừa cho khất gần tháng rồi.” Bà Xương kéo vạt áo: “Tiền Thành vay thì để nó về. Tôi chỉ ký làm chứng.”

Trên tờ giấy gốc 24 triệu, phía dưới hàng loạt dòng cộng lãi, phí, tổng hơn 74 triệu. Tôi hỏi bình tĩnh: “Chị có bản giấy vay ban đầu không?” Phượng quay sang: “Anh là ai?” “Con rể bà Xương.”

Tôi chỉ vào bảng tính: “Vậy chị cho tôi xem phần bà Xương cam kết trả thay ở đâu?” Phượng khựng lại. Tôi đọc kỹ chữ ký rồi đặt xuống: “Chữ ký có nhưng ký ở tư cách nào thì phải đọc cho hết.”

An đứng cạnh ngoại, tay áo xô lên quá khuỷu. Ngay gần khuỷu tay trái có một vết bớt cong nhạt màu như nét móc nhỏ. Tôi sững người. Ngày còn bé chính tôi cũng có một vết gần như thế. Tôi đưa tay chạm vào khuỷu mình qua lớp áo.

Phượng thở mạnh: “Nhà chị Xương nằm ngay đường ra khu thu mua. Nếu chị bán lại cho tôi, trừ hết nợ của Thành…” Bà Xương tái mặt: “Nhà này của tôi, tôi không bán.”

Tôi nhìn thẳng: “Nợ thật bao nhiêu thì làm rõ bấy nhiêu, còn nhà là chuyện khác.” Phượng cười nhạt: “Anh có tiền thì trả thay đi.” An quay sang nhìn tôi, trong mắt cậu có thứ gì rất rõ đang chờ. Tôi im vài giây: “Tiền tôi có thể trả. Nhưng nếu khoản nào không thuộc trách nhiệm của mẹ, tôi không trả thay để biến nó thành đúng.”

Một người đi cùng Phượng va chân vào rổ cá Hà Mi vừa kéo vào. Cá đổ đầy nền sân ướt. Hà Mi kêu lên. Tôi tháo đồng hồ đặt lên bậu cửa rồi ngồi xuống nhặt từng con cá. Hà Mi tròn mắt: “Chú không sợ tanh áo à?” “Áo tanh thì giặt được, cá của ngoại cháu mất một con là mất tiền một con.”

An do dự rồi kéo thau lại gần: “Con này dập bụng rồi, để riêng ra.” Tôi nghe chữ “con này” mà lòng nhói lên vô cớ.

Sáng hôm sau tôi quay lại từ rất sớm. Đêm qua gần như không ngủ. Hình ảnh vết bớt trên tay An cứ hiện lên mỗi lần nhắm mắt. Hà Mi đang buộc tóc trước gương. Một sợi dây bạc mảnh trượt khỏi cổ áo. Trên dây là miếng bạc hình bầu dục đã xỉn, mặt trước khắc chữ “Mi”, góc dưới có một chấm tròn rất nhỏ.

Tôi bước tới: “Hà Mi cho chú xem cái này được không?” Con bé nắm lại theo phản xạ. “Cái này của mẹ cháu.” Tôi cầm miếng bạc, ngón tay run. Mười hai năm trước khi Thư sinh đôi, chính tôi đã đặt làm hai miếng bạc, một khắc An, một khắc Mi. Người thợ làm gần giống nhau quá, tôi bảo chấm một dấu nhỏ lên miếng của con gái. Dấu chấm ấy vẫn còn.

“Cái này ai đưa cho cháu?” “Ngoại bảo mẹ để lại.” Tôi nhìn bà Xương: “Còn miếng của An?” Bà khẽ quay mặt: “Đứt dây lâu rồi, mẹ cất.”

Tôi đòi xem. Bà vào buồng lấy hộp thiếc. Ở đáy hộp là miếng bạc còn nguyên chữ An. Tôi cầm lên, mắt đỏ dần. “Đây là đồ con mua. Cho hai đứa con của con.”

Từ trong hộp, một tập giấy cũ trượt xuống. Tôi cúi nhặt. Trang trên cùng là bản photo giấy khai sinh Trần Đức An. Họ tên cha: Trần Quốc Duy. Tờ bên dưới: Trần Hà Mi. Cha: Trần Quốc Duy. Mẹ: Nguyễn Minh Thư.

Căn nhà như mất hết âm thanh. Tôi đọc lại từng dòng. “Nếu mẹ muốn giấu con suốt đời, tại sao trên giấy vẫn là tên con?” Bà Xương bật khóc: “Vì mẹ không dám xóa con.”

Tôi đứng lên, giọng vỡ: “Nhưng mẹ dám để con tin chúng chết suốt mười năm.”

Ngoài ngõ tiếng xe đạp của hai đứa trẻ đang trở về. Bà Xương cuối cùng buông tay: “Duy, hai đứa là con của con.”

Tôi không ngồi được nữa. Mười năm qua tôi vẫn tin mình đã chôn cả vợ lẫn hai đứa con trong cùng một ký ức. Vậy mà ngoài cổng lúc ấy có tiếng Hà Mi cười với anh trai, tiếng dép chạy trên nền gạch, tiếng một tuổi thơ vẫn sống bình thường ngay phía bên kia cánh cửa.

……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

TẠI ĐÂY 👇👇👇

 

Mười năm trước, cũng vào một ngày cuối đông, Thư đưa hai con về Hải Hậu. Chiều ấy tôi gọi: “Anh muộn mất.” Thư cười: “Anh lo việc đi.” Gần tối, trên đoạn đường về, chiếc xe gặp va chạm liên hoàn. Thư bị thương nặng. Hai đứa văng khỏi ghế nhưng may được đưa ra trước khi xe bốc khói. Bà Xương chạy đến bệnh viện huyện. Tôi từ Hà Nội lao xuống. Khi tôi tới, Thư đã không qua khỏi. An và Mi bị thương, được chuyển lên tuyến trên.

Tôi hỏi dồn: “Con đâu?” Bà Xương vừa khóc vừa nói: “Người ta chuyển đi rồi, yếu lắm.” Đến ngày thứ hai, khi tôi ngồi trước bàn thờ vợ, bà nói: “Không giữ được đâu con.” Tôi hiểu theo cách đau đớn nhất. Tôi không hỏi thêm, không chạy tới bệnh viện kia.

Bà Xương ngồi trước mặt tôi bây giờ: “Ngày ấy mẹ không nói hai đứa chết. Nhưng mẹ biết con tưởng chúng chết.” Tôi bật cười khô: “Chỉ cần mẹ nói thêm một câu thôi.”

Sau tang lễ bà vẫn chưa định giấu. Ngày bác sĩ báo hai đứa qua được cơn nguy hiểm, bà đã đứng cuối hành lang với chiếc điện thoại. Số tôi nằm đầu danh bạ. Bà bấm gọi, chuông mới vang một tiếng thì tắt. Vì sợ. Nếu chúng về với tôi, căn nhà này sẽ chẳng còn tiếng ai gọi mẹ nữa. Và vì một câu bà Hòa từng nói năm xưa: “Thằng Duy còn cả nhà nó phải lo, đâu thể gánh bên ngoại mãi.” Bà giữ câu ấy trong lòng.

Một tháng, rồi một năm. Mỗi lần định gọi, bà lại nhìn hai đứa ngủ rồi sợ. Năm An ba tuổi viêm phổi, bà lại bấm số tôi rồi tắt máy. Chỉ cần một lần thôi.

Tôi nhìn bà: “Con biết ơn mẹ vì mẹ đã nuôi chúng. Nhưng mẹ đừng bắt con vì biết ơn mà phải nói việc này là đúng.”

An đứng tựa cột từ lúc nào. “Chú là bố cháu thật à?” Tôi thấy cổ họng nghẹn. “Chú là bố của con.” Cậu cau mặt: “Cháu chưa gọi chú là bố.” Tôi gật: “Ừ, chú xin lỗi.”

Cậu hỏi: “Chú có đưa chúng cháu đi không?” Tôi lắc đầu: “Không ai đưa hai đứa đi đâu hết. Không ai được lấy một câu huyết thống để bắt con rời người đã nuôi con mười năm.”

Hà Mi kéo thùng ảnh từ gầm tủ. Tôi cầm từng tấm: An lớp một nắm chặt ngón tay ngoại, Mi mất hai răng cửa cười hở lợi, An bó bột cánh tay. Tôi được kể lại tuổi thơ của chính con như nghe chuyện hai đứa trẻ nhà hàng xóm. Cảm giác ấy còn đau hơn việc không biết gì.

Chiều ấy ở chợ, một người phụ nữ nhận ra tôi: “Thôi, bố con gặp lại nhau được là tốt, trẻ con thiếu bố cũng tội.” Tôi đứng sững. Cả làng nghĩ tôi biết hai đứa ở đây mà mặc kệ.

Tôi ngồi xuống bờ đê. Tôi bị giấu sự thật, điều ấy không thay đổi. Nhưng tôi cũng đã chọn không đào lại quá khứ vì sợ đau. Điều ấy cũng không thay đổi.

Chúng tôi làm xét nghiệm ADN. Kết quả xác nhận. Hà Mi ôm bà Xương trước: “Con vẫn là cháu ngoại chứ?” An hỏi: “Giờ chú có quyền đưa chúng cháu đi đúng không?” Tôi gấp tờ giấy: “Chú là bố ruột, nhưng tờ giấy này không cho chú quyền làm hai đứa sợ. Chuyện sống ở đâu không thể chỉ nhìn một tờ giấy rồi quyết.”

Chiều về, Hà Mi gắp cho tôi miếng cá rồi ngập ngừng: “Hay là bố ăn đi.” Chiếc đũa trong tay tôi khựng lại. “Ừ, bố ăn.”

Mẹ tôi xuống Hải Hậu. Bà Hòa nhìn An: “Thằng bé giống bố nó như đúc. Nhà mình cuối cùng cũng có thằng cháu trai nối họ.” Hà Mi dừng đũa. Tôi đặt bát xuống: “Mẹ ăn cơm đi.” Tối ấy con hỏi: “Bố thích anh An hơn à? Con gái thì không được gì hả bố?” Tôi nói: “Bố mất cả hai con mười năm. Bây giờ tìm lại được cả hai, không đứa nào thừa để bố thương ít hơn.”

Bà Hòa xin lỗi. Bà Xương và bà Hòa ngồi nhặt rau dưới hiên, nhận phần sai của mình. Không ôm nhau, không nói bỏ qua. Chỉ cùng nhặt một rổ rau cho bữa cơm trưa.

Rồi tin đồn lan: đại gia Hà Nội bỏ con mười năm, nay về vì đất lên giá. Đối tác muốn giải thích. Tân bảo đưa giấy ADN, khai sinh ra. Tôi lắc đầu: “Danh dự của anh không đáng để đổi lấy tuổi thơ của chúng.” Công ty chỉ phát thông báo ngắn về quyền riêng tư trẻ vị thành niên. Hợp đồng lớn bị hoãn. Tôi tiếc, nhưng đã chọn.

Một buổi chiều An đang học, tôi mang máy tính mới về. Cậu đẩy hộp lại: “Cháu không cần chú bù mười năm bằng đồ. Chú đi đâu thì nói. Hẹn ngày nào về thì ngày đó về. Đừng để người khác cứ chờ.”

Từ hôm ấy tôi không hứa những việc lớn. Hẹn thứ sáu về thì dù mưa, dù ùn đường, đúng chín giờ tối tôi vẫn về. An nhìn đồng hồ rồi nhìn tôi: “Chú về muộn. Nhưng có gọi trước.”

Chiều họp phụ huynh, công ty có buổi làm việc quan trọng. Tôi vẫn đi. An ngồi cuối lớp, quay sang nhìn tôi rất nhanh rồi cúi xuống. Tối đó cậu cất tờ giấy có chữ ký của tôi vào ngăn bàn dưới mấy quyển vở cũ.

Hai ngày sau tôi phụ bà Xương làm cá. Lưỡi dao trượt, máu bật ra. An lao vào nhanh hơn cả bà: “Bố để yên tay, đừng rửa nước ấy.” Căn bếp im bặt. Cậu đỏ mặt: “Con nói nhầm.” Tôi đưa bàn tay bị thương ra: “Ừ, bố để yên.” An cuấn băng, bàn tay run nhẹ. “Lần sau bố cắt cá thì để con chỉ từ đầu.”

Tôi nhìn đỉnh đầu con, mắt cay. Mười năm làm cha đã mất không thể mua lại bằng máy tính hay tài sản. Nhưng trong căn bếp ám mùi cá biển chiều hôm ấy, tôi nhận lại được một tiếng gọi mà tôi đã chờ suốt mười năm.

Cuối tháng tư, mái nhà được thay mấy viên ngói vỡ. Tôi không xây thêm tầng. Bà Xương thôi dậy từ ba giờ sáng đi chợ. Hai đứa vẫn học trường cũ. Cuối tuần muốn lên Hà Nội thì lên, muốn ở với ngoại thì ở. Tôi tự xuống.

Một buổi tối cả nhà ngồi quanh mâm cơm. Tôi nhìn hai con: “Các con không phải chọn giữa bố và ngoại. Người lớn đã quyết định thay các con đủ nhiều rồi. Sau này chuyện của các con, bố muốn nghe các con nói trước.”

Sáng hôm sau tôi chuẩn bị lên Hà Nội. An đứng ngoài cổng, hai tay đút túi. Tôi mở cửa xe: “Bố đi nhé.” Cậu gật. Tôi vừa định lên xe thì cậu gọi: “Bố.” “Ừ.” “Thứ năm bố về đúng không?”

Tôi nhìn con trai. Không còn câu “chú có đưa chúng cháu đi không”. Chỉ còn một câu hỏi rất bình thường của một đứa con đang chờ bố về.

“Ừ. Bố đã hứa thì bố về.”

Tôi lên xe. Qua gương chiếu hậu, Hà Mi vẫn vẫy tay. An không vẫy nhưng cũng chưa quay vào nhà. Lần đầu tiên sau mười năm, tôi rời Hải Hậu mà trong lòng không còn cảm giác bỏ chạy. Chỉ còn khoảng lặng dài của một người cha đang học cách đứng cạnh những người đã sống thiếu mình suốt một thập kỷ, và sợ rằng dù có cố đến đâu, mười năm ấy cũng không bao giờ lấy lại được.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!