Nữ Đại Úy Bầu Bảy Tháng Về Dự Giỗ Bố, Chồng Quát “Đừng Vác Xác Về”. Bảy Ngày Sau Anh Ta Quỳ Giữa Sân, Chỉ Hỏi Một Câu
Đi thì đừng vác xác về!
Cái ly thủy tinh trong tay anh Lâm đập xuống mặt bàn bếp. Nước văng lên tay áo tôi. Tôi đứng sát cửa, ba lô lính đã kéo khóa, cái bụng bảy tháng nặng trĩu phía trước.
“Anh nói lại xem.”
“Tôi nói đi thì đừng về nữa. Còn ba hôm mới tới giỗ, cô đi sớm làm gì? Cô là đại úy, cô giỏi lắm, cô cần gì tôi!”
“Em xin về sớm vì em đang bầu. Ba trăm cây số đường xe, em không dám đi sát ngày.”
“Vậy thì đi đi.”
Bốn năm làm vợ chồng, anh nóng tính, nhưng chưa một lần chỉ thẳng vào mặt tôi.
Mẹ chồng tôi, bà Liên, ngồi ở ghế sofa phòng khách, cách bếp chừng năm bước. Giữa tháng Mười, Hà Nội còn hai mươi tám độ, vậy mà bà vẫn quấn khăn len màu mận quanh đầu. Bà không nói gì. Hai bàn tay bà đặt trên đầu gối, run rất khẽ.
Tôi nhìn chồng. Anh thở gấp. Mắt anh đỏ, nhưng không phải kiểu đỏ của người đang giận. Lúc đó tôi chưa đọc ra.
Chuyện gì đang xảy ra trong ngôi nhà này, tôi hoàn toàn không hay. Muốn hiểu, phải quay lại hai tháng trước……
Tôi tên Quế, ba mươi hai tuổi, đại úy, trợ lý tham mưu của một trung đoàn gần Sơn Tây. Lương mười tám triệu một tháng. Tôi quen dậy năm giờ, gấp chăn vuông, ăn nhanh, nói gọn. Lấy anh Lâm được bốn năm. Anh làm trưởng phòng kinh doanh ở một công ty điện máy. Tụi tôi ở chung với mẹ chồng, trong căn nhà ba tầng ở Cầu Giấy.
Bà Liên từng dạy Văn ba mươi năm. Người gầy, lưng thẳng, giọng sắc. Bà hay sửa lời tôi. “Con nói xin phép đi vắng, đừng nói em đi đây.” Tôi nấu canh mặn, bà bảo: “Hành quân thì được, nấu ăn thì không.” Bà chê tôi nhiều, nhưng chưa một bữa để tôi nhịn đói. Có hôm tôi diễn tập về lúc hai giờ sáng, nồi cháo trên bếp vẫn còn ấm.
Còn chuyện giỗ bố tôi, thì tôi mang một món nợ.
Bố tôi, ông Thành, mất năm ngoái vì ung thư gan. Lúc ông trở nặng, đơn vị tôi đang diễn tập mười một ngày trên cao nguyên, điện thoại bị thu hết. Mẹ tôi phải gọi qua trực ban. Tôi về tới nhà thì ông đã nằm trên giường tre, khăn trắng phủ ngang ngực. Tôi chỉ kịp cầm bàn tay lạnh của ông.
Anh Lâm là người ngồi với tôi suốt đêm hôm đó. Anh nói: “Giỗ đầu, anh đưa em về, mình ở lại cả tuần.” Anh hứa thật lòng. Cho nên sáng nay, khi anh gào lên câu kia, tôi không hiểu nổi.
Hai tháng nay, nhà này đã lạ đi.
Đầu tháng Tám, anh Lâm bán chiếc xe máy, bảo để đổi xe mới. Chiếc xe mới chưa thấy đâu. Trong tủ giày có một cái túi ni lông xanh in tên bệnh viện ung bướu. Tôi hỏi, anh bảo anh đi khám dạ dày. Tối nào anh cũng ra ban công nghe điện thoại, đóng cửa kính, nói rất nhỏ.
Bà Liên thì gầy đi thấy rõ. Bà bảo bà cảm lạnh, phải đội khăn cho ấm. Có hôm bà nấu cho tôi canh bầu nấu tôm, đứng bếp được một lúc phải vịn mép tủ. Tôi định hỏi. Bà nhìn tôi, nói: “Chuyện của người già, đừng hỏi.” Mà bà Liên ghét nhất là bị hỏi.
Có một lần tôi hỏi thẳng chồng: “Anh có chuyện gì giấu em không?”
Anh cầm điện thoại, không ngẩng đầu. “Công ty dạo này nhiều việc.”
Hồi đó đơn vị tôi đang cuối năm, tuần nào cũng ba bốn đêm ngủ ngoài thao trường. Tôi để chuyện ấy trôi qua. Tôi còn nhớ mình đã nghĩ: chắc chuyện làm ăn, để hôm nào hỏi sau.
Cái “sau” đó, hóa ra không còn nhiều.
Sáng hôm ấy, tôi đã bước tới cửa thì nghe tiếng dép sau lưng. Bà Liên đứng dậy, chống tay lên thành sofa, đi chậm lại gần tôi. Bà đưa cho tôi một bó hương quấn giấy đỏ.
“Mẹ mua ở chùa. Loại tốt. Thắp cho bố con. Nói là mẹ gửi.”
“Dạ, con cảm ơn mẹ.”
“Đừng đi bộ ra bến, gọi xe. Bụng to rồi.” Bà ngừng lại, hạ giọng, chỉ đủ cho tôi nghe. “Đừng để ý thằng Lâm. Cứ đi.”
Tôi quay lại nhìn chồng. Anh đứng cạnh bàn bếp, nhìn mẹ bằng một ánh mắt tôi nhớ mãi. Không phải giận. Giống ánh mắt của người đứng trên bờ, nhìn thuyền chèo ra xa.
“Em đi nhé.”
Anh không trả lời.
Xe khách chạy bảy tiếng. Tôi ngồi gần cửa sổ, tay đặt lên bụng, cầm bó hương của bà Liên suốt dọc đường. Gần tới Vinh, điện thoại rung. Tin nhắn của bà: “Đến nơi, nhắn mẹ một chữ.” Bà nhắn tin y như chấm bài, có dấu phẩy, có dấu chấm. Tôi nhắn lại: “Dạ.”
Mẹ tôi, bà Cúc, đứng đợi ở đầu ngõ, áo bà ba nâu, tóc bạc trắng. Bà nhìn cái bụng của tôi, rồi nhìn ra sau lưng tôi, tìm chồng tôi.
“Lâm không về à?”
“Anh bận ạ.”
“Bận gì mà bận hơn giỗ bố vợ.”
Tôi không đáp. Bà cũng không hỏi thêm. Bà cầm ba lô của tôi, nói: “Bụng to rồi, đừng xách.”
Hai mẹ con làm giỗ như mọi năm. Gà ri luộc, xôi gấc, canh măng khô, nhút, bánh đa nướng. Mẹ tôi dậy từ bốn giờ sáng, nói ít, tay làm nhanh. Nhưng trong mấy ngày ấy, có những chuyện làm tôi bất an.
Tối đầu tiên, gần mười một giờ, điện thoại đổ chuông. Bà Liên. Bà nói rất ngắn, giọng đứt quãng, phải nghỉ giữa các câu.
“Con ngủ chưa?”
“Dạ chưa. Sao mẹ chưa ngủ?”
“Mẹ muốn nghe giọng con. Thế thôi.” Sau lưng bà có tiếng bíp, bíp, đều đều. “Con tới nơi, mẹ biết rồi. Ngủ đi.”
“Mẹ đang xem phim hả?”
“Ừ. Phim dài lắm.”
Bà cúp máy. Tiếng bíp ấy theo tôi vào giấc ngủ, mà tôi không biết nó ở đâu ra.
Tối thứ hai, tôi cầm điện thoại ngồi ngoài hiên. Tôi muốn gọi cho anh Lâm. Thật ra tôi chẳng làm gì sai, nhưng cái thói quen làm vợ cứ đẩy ngón tay tôi đi trước cái đầu. Tôi bấm.
Chuông reo bốn hồi, anh bắt máy. Anh không nói. Tôi nghe tiếng anh thở. Phía sau là tiếng loa, một giọng phụ nữ đều đều đọc: “Mời người nhà bệnh nhân giường số mười bốn…”
“Anh Lâm?”
Một quãng im. “Mai anh gọi lại.”
Anh cúp máy. Anh không gọi lại. Tôi nằm cả đêm, tự nhủ đó là loa chợ, loa ga, loa gì cũng được, miễn đừng là loa bệnh viện.
Ngày thứ ba là ngày giỗ, chỉ có chín người. Tôi thắp bó hương bà Liên gửi, khói bay lên thẳng, không lệch một nhịp. Tôi quỳ trước ảnh bố, nói nhỏ: “Con về rồi, bố. Con xin lỗi vì năm ngoái.” Mẹ tôi đứng sau, đặt tay lên vai tôi. Bà bảo: “Ông ấy đợi con đó. Giờ mới chịu yên.” Tôi bật cười, rồi mím môi lại.
Chiều ấy, bà đưa tôi chiếc áo khoác lính cũ của bố. “Mặc vô đi, trời trở lạnh.” Áo còn mùi nắng. Tay áo dài quá.
Ngày thứ năm, tin nhắn của bà Liên ngắn dần: “Con ăn cơm chưa.” Ngày thứ sáu, không có tin nào.
Tôi nhắn: “Mẹ khỏe không ạ?” Không ai trả lời.
Chiều ngày thứ bảy, tôi đang ngồi nhặt rau ngoài sân thì nghe tiếng ô tô thắng gấp ngoài ngõ. Một chiếc xe bám đầy bụi. Anh Lâm bước xuống.
Tôi gần như không nhận ra anh. Râu lởm chởm, áo nhàu, hai mắt trũng sâu như người mấy đêm không ngủ. Anh đi vào sân, không chào ai, đi thẳng tới chỗ tôi ngồi. Rồi anh quỳ xuống nền xi măng, ngay giữa sân, dưới giàn mướp.
“Lâm! Anh làm cái gì thế?” Tôi đứng bật dậy, rổ rau đổ xuống chân.
Mẹ tôi ra tới hiên, tay còn cầm cái chổi. Hai người hàng xóm bên kia hàng rào dừng lại nhìn.
“Quế,” anh nói, giọng khàn đặc. “Anh xin em.”
“Đứng lên đi. Có chuyện gì thì nói.”
“Anh không đứng nổi.”
Giọng anh lúc đó, tôi chưa nghe bao giờ. Không phải giọng người hối lỗi. Giọng người sắp ngã.
Anh ngẩng lên nhìn tôi. “Đêm qua mẹ hỏi anh một câu, hỏi suốt đêm. Mẹ hỏi: con Quế đã kịp thắp hương cho bố nó chưa?”
Mẹ tôi buông cái chổi. Cán chổi chạm nền một tiếng khô.
“Mẹ hỏi anh?” Tôi nói. “Mẹ ở nhà mà.”
“Mẹ không ở nhà.” Anh cúi xuống, hai tay chống lên nền xi măng. “Mẹ vào viện ra viện từ tháng Sáu. Ung thư dạ dày. Tháng Tám thì bác sĩ nói đã di căn sang gan. Sáng em đi, mẹ nhập viện lại lần thứ ba.”
Tôi không nghe được gì khác nữa. Chỉ thấy cái khăn len màu mận. Cái túi ni lông xanh. Tiếng bíp bíp. Tiếng loa gọi giường số mười bốn.
“Mẹ cấm anh nói với em. Mẹ bảo em đang bầu, em là lính, nghe vậy em sẽ không đi giỗ. Em sẽ ở lại, rồi cả đời em ôm cái giỗ bị lỡ lần thứ hai.” Giọng anh vỡ ra. “Sáng đó, mẹ ngồi sofa đợi em đi khuất mới chịu lên xe. Mẹ nói với anh: nếu con hiền với nó, nó sẽ hỏi. Nó mà hỏi, nó sẽ ở lại.”
“Cho nên anh quát.”
“Cho nên anh chọn câu nặng nhất để em giận mà đi.” Anh lắc đầu thật mạnh. “Không. Mẹ không dạy anh câu đó. Cái câu vác xác là của anh. Anh sợ mình mềm lòng, sợ lỡ miệng nói ra sự thật, nên anh nói câu tàn nhẫn nhất mà anh nghĩ ra được.”
Tôi nhìn xuống cái đầu cúi thấp của chồng. Tôi thấy mình bình tĩnh, bình tĩnh đến mức lạnh. Tôi hỏi anh câu mà tôi vẫn hỏi bất cứ người lính nào báo cáo sai.
“Anh biết bao lâu rồi?”
“Hai tháng.”
“Hai tháng. Anh có hai tháng để nói với em một câu. Và anh chọn đúng ngày em đi xa nhất, để nói câu tàn nhẫn nhất.”
Anh không cãi.
Mẹ tôi bước xuống sân, đi chậm, tới đứng cạnh anh Lâm. Tôi tưởng bà sẽ mắng. Bà cúi xuống, nắm cánh tay anh, kéo mạnh.
“Đứng lên.” Giọng bà thấp, rất rõ. “Quỳ ở sân nhà tôi không cứu được bà thông gia. Lên xe còn kịp.”
Rồi bà quay sang tôi. Bà không hỏi tôi có muốn đi không. Bà chỉ nói: “Bố con thắp xong rồi. Con đi đi. Mặc áo của bố vô, ban đêm xe lạnh.”
Tôi không tha cho anh ngày hôm đó. Tôi nói trước mặt mẹ tôi: “Em đi vì mẹ. Không phải vì anh.”
Xe chạy suốt đêm. Anh lái, tôi ngồi ghế sau, hai tay ôm bụng. Qua Nghệ An, qua Thanh Hóa, anh nhiều lần ngoái nhìn gương rồi lại thôi. Tôi không nói với anh một câu. Con trong bụng đạp liên tục, như biết nó đang đi đâu.
Ba giờ sáng chúng tôi tới bệnh viện. Phòng bà Liên ở tầng bảy, đèn hành lang vàng đục. Bà nằm đó, mũi thở oxy, chiếc khăn len đã tuột xuống, để lộ cái đầu gần như hết tóc. Tôi quen thấy bà lưng thẳng, giọng sắc. Giờ bà nhỏ như một đứa trẻ.
Bà mở mắt. Thấy tôi, bà nhìn qua vai tôi, sang chồng tôi.
“Ai gọi nó về?”
“Con,” anh Lâm đáp.
“Thằng dại.” Bà nhắm mắt, rồi lại mở ra. “Quế. Thắp cho bố con chưa?”
“Rồi mẹ. Hương mẹ gửi cháy đều lắm. Khói bay thẳng.”
Bà cười, cái cười kéo mấy nếp nhăn dồn về một phía. “Mẹ chọn loại tốt.” Bà thở một lúc, tay tìm tay tôi. Tôi nắm lấy. Bàn tay bà lạnh, toàn xương, nhưng nắm rất chặt.
“Mẹ làm sai,” bà nói. “Mẹ nghĩ mẹ giữ cho con một cái giỗ trọn vẹn. Giờ mẹ biết, mẹ giữ cho mẹ khỏi bị thương hại. Mẹ sợ con nhìn mẹ như thế này.”
“Mẹ ơi…”
“Nghe mẹ nói.” Bà liếc sang anh Lâm, rất lâu. “Còn câu thằng Lâm đã nói với con, con đừng tha vì mẹ. Mẹ sắp đi rồi, mẹ không cần ai tha thứ hộ mẹ, hộ nó. Tha hay không là việc của con.”
Anh Lâm đứng ở góc phòng, bàn tay bịt chặt miệng.
Bà Liên mất mười chín ngày sau, vào một sáng sớm. Tôi ngồi cạnh bà từ chiều hôm trước. Đơn vị cho tôi nghỉ phép dài, nhưng suất đi học lớp chỉ huy tham mưu năm nay, suất duy nhất của trung đoàn, người khác nhận. Tôi biết cái giá đó. Tôi trả nó, không đòi ai bù.
Dọn dẹp xong, tôi mở ngăn kéo đầu giường bà, lấy cuốn sổ huyết áp tôi từng dặn bà ghi hằng ngày. Tôi lật tới trang ngày tôi rời nhà. Bên cạnh con số đo, bà viết thêm một dòng bằng nét chữ giáo viên, tròn và đều: “Nó đi rồi. Lâm làm tốt. Mình cũng đỡ.”
Tôi đọc ba lần. Chữ “tốt” đó, bà viết về cái câu đã làm tôi nghiền ngẫm suốt bảy ngày.
Tôi gấp sổ lại. Tôi chưa nói với anh Lâm. Chưa biết có nên nói không.
Tối đó, tôi chia bó hương còn lại làm hai phần. Một nén đặt trước ảnh bà Liên. Một nén cắm ở khung cửa sổ, hướng về phía quê. Anh Lâm đứng sau lưng tôi, cách một sải tay, không dám lại gần. Tôi không quay lại gọi anh. Cũng không bảo anh đi.
Cái thai trong bụng đạp một cái, rất mạnh. Tôi đặt tay lên, nói nhỏ: “Chờ mẹ chút. Mẹ chưa quyết xong.”





