Mẹ Chồng Dọn Đến Nhà Để An Hưởng Tuổi Già, Con Dâu Âm Thầm Bỏ Về Nhà Ngoại. Khi Chồng Thắc Mắc, Cô Lạnh lùng đáp……
Cây nến rơi khỏi tay tôi, lăn trên nền gạch rồi tắt phụt. Ngoài trời mưa trắng xóa, điện cả hẻm chập chờn rồi tắt hẳn, căn nhà chìm trong bóng tối. Người đàn ông ướt sũng đứng giữa phòng khách cúi đầu, hai bàn tay run vì lạnh. Má chồng tôi nhìn tôi bằng ánh mắt của người vừa bị xé toạc một bí mật đã giữ quá lâu. Rồi ông nói, rất khẽ: “Tôi là anh trai của Tấn.” Tôi đứng chết lặng. Chồng tôi vẫn luôn nói anh là con một.
Mọi chuyện bắt đầu từ ba tháng trước, khi má chồng tôi bán căn nhà dưới quê để lên thành phố sống cùng vợ chồng tôi. Họ hàng ai cũng bảo chúng tôi có phước. Bà Ngọc sáu mươi lăm tuổi, nhỏ thó, da xạm nắng, giọng miền Tây nhẹ như nước mưa. Chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con, cả đời quanh quẩn với cái quán bánh canh đầu chợ. Hôm dọn đồ, chính tôi lót tay vào góc thùng giấy để bà khỏi đứt tay. Lúc ấy tôi thật lòng nghĩ, thêm một người thân trong nhà là điều tốt.
Nhưng từ tuần thứ hai, những chuyện nhỏ bắt đầu len vào. Năm giờ sáng bà đã bật tivi nghe vọng cổ, tiếng vang dội lên tận lầu, khiến đầu tôi nhức như búa bổ sau những đêm làm kế toán đến khuya. Tôi nấu nhạt vì Tấn bị huyết áp, bà lặng lẽ chan thêm nước mắm vào tô canh. Có lần chị bán tạp hóa kể lại, bà than với hàng xóm rằng con dâu nấu ăn như cho người bệnh. Tối đó tôi ngồi rất lâu trước bàn ăn đã dọn sạch, cổ họng nghèn nghẹn. Nhưng điều làm tôi bất an nhất không phải những chuyện ấy. Là bảy giờ tối.
Ngày nào cũng vậy, đúng bảy giờ, bà thay bộ đồ gọn gàng, chải tóc rồi ra ngồi phòng khách, lưng thẳng tắp, mắt nhìn ra cổng. Tấn thường tám giờ mới về, có hôm gần chín giờ, mà bà vẫn ngồi đó. Và đúng lúc ấy, điện thoại bà lại rung. Bà không bao giờ nghe trước mặt tôi, lúc nào cũng cầm máy ra hiên hoặc xuống bếp. Một tối tôi đứng trên cầu thang, nghe tiếng bà thì thầm: “Ừ, nó chưa về.” Tôi bước xuống, tiếng nói lập tức im bặt.
Một tuần sau, Tấn báo sẽ về sớm. Tôi mua cá kho thơm, xào thêm dĩa bông bí chồng thích. Bà đứng nhìn đồng hồ rồi bảo: “Con khỏi nấu nhiều, tối nay nó không ăn đâu.” Tôi ngạc nhiên: “Anh ấy nói về mà má.” “Má biết nó mà.” Mười lăm phút sau, Tấn gọi báo tăng ca thật. Tôi cúp máy, đứng yên trước bếp, một luồng lạnh chạy dọc sống lưng. Bà biết trước, biết chính xác đến từng phút.
Mấy hôm sau, cô Sáu đầu hẻm kéo ghế ngồi cạnh tôi lúc tôi quét sân. “Má chồng con vui ghê, tối nào cũng có người tới tìm.” Cây chổi trong tay tôi khựng lại. “Cái ông chạy xe bảy chỗ màu đen đó, đứng đầu hẻm một chút rồi đi. Có hôm má con còn đem đồ ra đưa.” Tim tôi đập mạnh đến mức tưởng cô cũng nghe thấy. Tối ấy, sáu giờ năm mươi lăm, tôi tắt bếp ngồi sẵn ở phòng khách. Bà bước ra, thấy tôi thì khựng lại. Đúng bảy giờ điện thoại rung. Lần đầu tiên bà không tránh ánh mắt tôi, bàn tay cầm máy siết đến nổi gân xanh.
Tiếng còi xe khẽ vang ngoài hẻm. Bà bật dậy, chiếc ghế nhựa trượt mạnh trên nền gạch, tay cầm túi ni lông đỏ chạy ra cổng. Qua khe cửa, tôi thấy một người đàn ông cao gầy, tóc bạc quá nửa, đứng khom vai cạnh chiếc xe đen. Chưa đầy một phút bà quay vào. “Má đưa gì cho người ta vậy?” “Khô cá, người quen dưới quê.” “Người quen nào mà ngày nào cũng tới đúng bảy giờ?” Bà im lặng. Điện thoại bà lại rung, màn hình hiện hai chữ: Anh Phúc. Bà tắt máy rất nhanh, lên phòng, và tiếng khóa cửa vang lên cạch một tiếng nhỏ khiến tôi lạnh cả người.
Gần chín giờ Tấn về, tươi rói vì mùi cá kho. Tôi vừa gấp áo vừa hỏi: “Anh có quen ai tên Phúc không?” Cái muỗng trong tay anh va vào thành chén. “Ở công ty anh thiếu gì người tên Phúc.” Anh trả lời quá nhanh. Tối đó, lần đầu tiên từ ngày cưới, tôi nằm quay lưng về phía chồng. Ba giờ sáng, tiếng mở cửa dưới nhà đánh thức tôi. Tôi rón rén xuống, đứng sau bức tường cầu thang, nghe bà nói trong điện thoại: “Tôi nói rồi, đừng tới nữa. Không phải lúc này, nó nghi rồi.”
Sáng ra, tôi hỏi thẳng Tấn: “Anh có biết má đang giấu chuyện gì không?” Anh thở dài, bảo người già mất ngủ thì gọi cho bạn bè thôi. “Ba giờ sáng đó anh.” Anh đặt mạnh ly xuống bàn, giọng khó chịu. Tôi chỉ gật đầu. Từ đó trong nhà có những khoảng lặng lạ. Chỉ bảy giờ tối là không đổi: điện thoại rung, bà ra cổng, chiếc xe đen đứng đầu hẻm. Rồi tới đêm mưa ấy. Tiếng gõ cửa dồn dập, bà lao ra suýt vấp ghế, người đàn ông bước vào, còn tôi đánh rơi cây nến. Đúng lúc đó, tiếng xe máy thắng gấp ngoài cổng. Tấn xông vào, áo dính sát lưng. Thấy người đàn ông giữa nhà, chiếc túi trên tay anh rơi xuống nền. Anh không hề ngạc nhiên. Anh chỉ gắt lên: “Ông tới đây làm gì?” Tôi nhìn chồng, giọng khàn đặc: “Anh biết chuyện này.”
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Anh không trả lời tôi. Ông Phúc nói khẽ: “Tôi không giành gì hết.” Tấn cười khô khốc: “Câu đó hai chục năm trước ông cũng nói. Ngày ba mất, ông biến đâu mất tiêu. Má với tôi sống chết dưới quê, không thấy mặt ông.” “Tôi có gửi tiền về.” Câu ấy làm Tấn sững lại. Bà Ngọc quay mặt đi.
Bà ngồi xuống mép ghế, hai tay đan vào nhau, giọng nhỏ gần như lẫn vào tiếng mưa. “Hồi đó má giấu con. Anh con không bỏ nhà đi. Ba con bệnh nặng, nhà nợ dữ, nó nghỉ học lên Bình Dương làm công trình, gửi tiền về đều mấy năm. Nó cưới vợ sớm, má nóng giận nói từ mặt. Sau này má sợ con bỏ học theo anh, nên mới nói nó phụ bạc gia đình.” Tấn ngồi cúi đầu rất lâu, rồi bật cười chát đắng. Ông Phúc lúc ra về chỉ nói với tôi: “Xin lỗi vì làm cô khó xử.” Giọng ông hiền đến mức tôi không kịp đáp, ông đã bước vào màn mưa.
Đêm đó Tấn ngồi ngoài ban công hút thuốc tới gần sáng. Tôi ra ngồi cạnh. Anh nói như moi từng chữ ra khỏi cổ họng: hồi nhỏ anh ghét anh Phúc vì nghĩ ảnh bỏ hai mẹ con, nhớ hoài cảnh má nửa đêm ra đồng cắt lúa thuê. Anh biết má đã gặp lại ảnh mấy tháng nay, chỉ không dám nói với tôi. “Cuối cùng người bị giấu lại là anh,” anh cười mệt mỏi.
Từ hôm đó, căn nhà đổi khác. Bà Ngọc ít ra khỏi phòng, bữa cơm thưa tiếng nói. Tấn về sớm hơn nhưng không ngồi lại lâu. Chỉ có bảy giờ tối là không thay đổi: điện thoại bà vẫn rung, có hôm bà nghe rất lâu, có hôm chỉ nhìn màn hình rồi tắt. Tôi bớt nghi ngờ, nhưng chưa hiểu vì sao mỗi lần nghe còi xe đầu hẻm, bà lại siết chặt túi ni lông đỏ như đang giữ thứ gì quý giá hơn cả đồ ăn. Có lần tôi vô tình thấy bà đếm tiền trên giường, cạnh cuốn sổ tiết kiệm đứng tên người khác. Bà ngẩng lên, hai mắt mở lớn, và giọng cứng hẳn lại.
Tưởng đến đó là xong. Nhưng một chiều, tôi thấy bà Ngọc với ông Phúc ngồi ở quán nước cô Sáu, bà đang cằn nhằn ông đừng đứng ngoài hẻm nữa. Ông đặt xuống bàn sấp giấy tờ miếng đất sau chợ, thứ bà tưởng đã bị siết nợ từ lâu. “Tôi chuộc lại rồi.” “Anh chuộc bằng cách nào?” Tấn hỏi. “Đi làm.” Tối đó, một người phụ nữ đứng trước cổng, tự xưng là vợ cũ của ông, tên Hà. Bà nói thẳng: “Ổng vay giang hồ để chuộc đất, trả tới giờ chưa xong. Gần bốn trăm triệu.” Chén trên tay bà Ngọc rơi xuống, vỡ choang.
Hôm sau, chủ nợ kéo tới tận xưởng cửa nhôm của ông. Chiều tối Tấn gọi cho tôi, giọng gấp gáp: “Vi, anh Phúc mất tích rồi. Xe còn ngoài bãi, điện thoại bỏ trong cốp.” Bà Ngọc run đến không đứng nổi, lẩm bẩm: “Nó không biết bơi, hồi nhỏ té mương suýt chết.” Bà Hà nói ông có tật, hễ bí quá là ra bến xe ngồi nhìn người ta đi tới đi lui. Chúng tôi lao ra bến xe miền Tây trong mưa lất phất. Ông ngồi đó, cuối dãy ghế, tóc ướt, bên cạnh cái túi vải cũ. “Tôi thấy mình ở đâu cũng phiền,” ông nói. Bà Ngọc bật khóc: “Má đuổi ông một lần chưa đủ sao?” Ông quay đi rất nhanh, nhưng tôi vẫn thấy khóe mắt ông đỏ.
Đúng lúc ấy điện thoại Tấn reo, số lạ. Anh nghe vài giây, sắc mặt đổi hẳn. Cúp máy, anh nói chậm: “Người ta bảo khoản nợ đó không đứng tên anh Phúc. Người ký giấy vay là má.” Tiếng loa gọi chuyến vẫn vang trên đầu, nhưng không ai còn nghe gì. Bà Ngọc ngồi cứng đờ, hai tay siết nhăn tà áo. “Má có ký không?” Một khoảng lặng rất dài. Rồi bà gật đầu thật khẽ. “Má ký. Họ nói ký để chuộc đất, không thì mất luôn. Má sợ.” Ông Phúc ngồi thụp xuống, ôm đầu: “Con biết từ lâu, nên con trả. Mười mấy năm, để má khỏi phải trả.” Tôi nhìn người đàn ông giữa bến xe đông người, cổ họng nghẹn cứng. Cả đời ông như cây cột nhà, mục đi cũng chẳng ai hay.
Sáng hôm sau, một người đàn ông áo sơ mi trắng đứng trước cổng: ông Tư Lành, chủ nợ năm xưa. Ông đặt tờ giấy ố vàng lên bàn: khoản vay ban đầu chỉ một trăm hai mươi triệu. Phần còn lại là lãi chồng lãi, do đám thu nợ thuê làm lớn chuyện. “Tôi qua trước vì sợ tụi nhỏ làm bậy,” ông nói. Ông Phúc đề nghị bán miếng đất. Bà Ngọc phản đối, rồi nhìn con trai rất lâu và gật đầu: “Miễn đừng ai vì má mà cực nữa.” Đất được bán cho người quen trong xóm, nợ trả xong, còn dư một khoản nhỏ.
Bây giờ, bảy giờ tối, đèn trong nhà vẫn sáng, nồi cá kho vẫn nghi ngút khói. Bà Ngọc không còn ngồi chờ ngoài phòng khách; bà ngồi giữa bàn ăn, lột tôm cho Tấn, cằn nhằn ông Phúc đừng uống bia. Bà Hà gắp rau vào tô ông, ông cười hiền. Chiếc xe đen không còn đứng ngoài đầu hẻm. Vậy mà thỉnh thoảng, nghe tiếng còi xe khẽ vang đâu đó, tôi vẫn ngoảnh ra cổng. Tôi nhớ dáng người đàn ông khom vai dưới đèn đường, đứng suốt những buổi tối chẳng ai mời vào. Tôi nghĩ tới hai mươi năm mà bàn ăn ở quê bà vẫn dọn thiếu một đôi đũa, và cái túi ni lông đỏ bà gói khô cá mỗi chiều. Bà chưa bao giờ nói. Ông cũng chưa bao giờ hỏi. Chỉ có tôi, người đến sau cùng, ngồi nghe hết, muộn màng.





