Cứ Ngỡ Cha H/y Si/nh 8 Năm Trước, Ngày Trở Về Anh Nghẹn Ngào Thấy Con Trai Ngơ Ngác Hỏi: “Chú Tìm Ai?”
Tôi đứng trước cổng nhà sau tám năm dòng dã, tay run run bám vào cánh cổng sắt hoen rỉ. Khu tập thể cũ vẫn vậy, cây bàng già rụng lá, dàn hoa giấy đỏ rực trước hiên vẫn nở như ngày tôi rời đi trong đêm mưa bão. Tôi nhìn thấy vợ tôi – Hồng Anh – đang bần thần đánh rơi chiếc rổ nhựa xuống sân. Và bên cạnh cô là một cậu bé tám tuổi đang ngơ ngác nhìn tôi. “Chú tìm ai thế ạ?” Tiếng con tôi vô tư như mũi dao cứa vào tim. Tôi không trả lời được, chỉ có nước mắt lăn dài trên gò má xạm đen, trên những vết sẹo dài hằn sâu vì đá ngầm dưới dòng lũ.
Tám năm trước, tôi là đại úy biên phòng. Đêm ấy mưa rừng Tây Bắc xối xả, tôi được nghỉ phép về thăm vợ con đúng một ngày rưỡi. Bé Khôi sốt mọc răng, Hồng Anh thức trắng đêm bế con. Giữa đêm khuya, điện thoại đơn vị reo: chuyên án m/a tú/y bất ngờ có biến. Bọn tội phạm định tuồn hàng qua đường tiểu ngạch, lợi dụng mưa bão để che mắt. Tôi vội khoác áo mưa, quay lại nhìn vợ con: “Ba đi giải quyết nốt việc rồi về mua sữa cho em nhé.” Hồng Anh bế con ra cửa tiễn, đôi mắt đầy lo âu. Tôi không biết đó là lần cuối cùng cô thấy tôi.
Trong lúc tr/uy b/ắt tên trùm, đất mềm vì mưa lũ bất ngờ sạt lở, kéo tôi và hắn rơi xuống dòng nước chảy xiết. Đồng đội tìm kiếm suốt bốn ngày đêm nhưng vô vọng. Tờ giấy báo t/ử được gửi về. Hồng Anh trở thành hóa phụ khi con mới ba tháng tuổi.
Nhưng tôi chưa ch/ết. Dòng nước đưa tôi trôi dạt hàng chục cây số sang nước bạn, tấp vào một bãi bồi hoang vu. Một ông lão người dân tộc thiểu số đi bẫy thú rừng phát hiện và cứu tôi. Tôi bị chấ/n thư/ơng s/ọ nã/o nặng, mất hoàn toàn trí nhớ. Tôi không biết tên mình, không biết mình là ai, có vợ con hay không. Người dân trong bản gọi tôi là A Lử – người trôi sông.
Tám năm trời tôi sống như cái bóng vô hồ/n giữa núi rừng nước bạn. Tôi làm thuê, phát nương, trèo đèo lội suối, cắn răng chịu đựng những cơn đau đầu dai dẳng. Nhưng đêm đến, khi cả bản làng chìm vào giấc ngủ, tôi lại trằn trọc cố moi móc từng mảnh ký ức vỡ vụn. Có khi một tiếng ru con, một bóng dáng người phụ nữ thoáng qua cũng đủ khiến tim tôi nhói đau. Tôi cố nắm bắt nhưng chúng vụt tan như bong bóng xà phòng.
Bước ngoặt đến vào một ngày đầu đông năm thứ tám. Đoàn bác sĩ qu/ân y từ dưới xuôi lên khám b/ệnh. Khi tôi nhìn thấy màu áo xanh quen thuộc, một luồng điện mạnh chạy dọc sống lưng. Đầu tôi đau như búa bổ, hình ảnh ùa về dồn dập: tiếng hô khẩu lệnh trên thao trường, những đêm mai phục trong rừng sâu, tiếng sún/g bên bờ vực thẳm. Rồi nụ cười hiền của Hồng Anh, tiếng khóc chào đời của bé Khôi, lời hứa đêm mưa bão: “Ba đi giải quyết nốt việc rồi về mua sữa cho em nhé.” Tôi nhớ ra tất cả. Tôi là Thắng, đ/ại ú/y bộ đội biên phòng, vợ tôi là Hồng Anh, con trai tôi là Khôi.
Tôi q/uỳ xuống nền đất lạnh, khóc như một đứa trẻ. Ông lão ân nhân và gia đình dù không hiểu hết lời tôi nhưng nhìn ánh mắt bừng sáng, họ biết con chim lạc đàn đã tìm được đường về. Họ gói ghém ít lương khô, bán con lợn lấy tiền lộ phí, tiễn tôi lên đường.
Hành trình trở về gian nan vô kể. Không giấy tờ, bộ dạng sơ x/ác, tôi xin đi nhờ xe tải ban đêm, phụ bốc vác kiếm từng bữa cơm, có đoạn phải đi bộ hàng chục cây số. Đôi dép mòn vẹt, chân phồng rộp tứ/a má/u nhưng ngọn lửa hy vọng được ôm vợ con luôn cháy rực trong tim.
Và rồi tôi đứng trước căn nhà cũ, trước vợ và con trai. Nhưng cậu bé tám tuổi không nhận ra tôi. Tôi đã thay đổi quá nhiều: gầ/y g/ò, râu ria xồm xoàng, hai vết sẹ/o dài trên mặt. Với Khôi, ba Thắng là siêu nhân trong ảnh trên tường, là câu chuyện cổ tích mẹ kể, chứ không phải người đàn ông xa lạ đáng sợ trước mặt……………….
Tối đó bữa cơm đoàn tụ diễn ra trong không khí ngượng ngập. Khôi ngồi co rúm ở góc mâm, tôi gắp thịt vào bát nó, nó lặng lẽ gạt sang một bên. Đêm đến, tôi nằm dưới sàn, lắng nghe tiếng thở đều đều của vợ con trên giường. Khoảng cách giữa tôi và con trai vẫn còn đó.
Nhưng người lính biên phòng chưa bao giờ biết đầu hàng. Tôi bắt đầu bằng những việc nhỏ nhất: lợp lại mái tôn, sửa bản lề cửa, dọn dẹp sân vườn. Một buổi chiều, tôi nhặt được con quay gỗ và mảnh siêu nhân gãy tay của Khôi. Tôi ra xưởng mộc xin một khúc gỗ xến, rồi ngồi ngoài hiên tỉ mẩn gọt đẽo cả buổi. Tôi muốn tặng con một chú bộ đội bằng gỗ – hình ảnh của tôi ngày xưa, nụ cười tươi, mũ tai bèo, ba lô con cóc.
Khôi đi học về, thấy bức tượng trên bậu cửa sổ, mắt nó sáng lên. Nó rón rén cầm lên vuốt ve, rồi chạy ra khoe với bạn. Nhưng đứa bạn lớn tuổi hơn chê bai, nói xấu tôi. Khôi uất ức, cãi lại rồi bị xô ngã, bức tượng văng xa xước một mảng. Tôi chạy ra đỡ con, nhặt bức tượng lên. Đám trẻ sợ hãi lùi lại, nhưng tôi chỉ mỉm cười, hứa sẽ đẽo cho mỗi đứa một món đồ chơi. Mắt bọn trẻ sáng rực, tiếng “chú Thắng siêu nhân” vang lên.
Khi đám trẻ giải tán, Khôi ngước nhìn tôi, đôi mắt ướt át. Nó không còn sợ nữa. Tối hôm đó, trên mâm cơm, tôi gắp miếng cá đã gỡ xương vào bát con. Khôi ngập ngừng nhìn tôi rồi bất chợt hỏi: “Ba ơi, sẹo trên mặt ba có đau không ạ? Để con lấy băng cá nhân siêu nhân dán cho ba mau khỏi nhé.” Tiếng “ba” vang lên trong trẻo, thiêng liêng. Tôi buông đũa, nước mắt trào ra. Tôi ôm chặt con trai vào lòng, khóc nức nở: “Có Khôi gọi ba, ba hết đau rồi con ơi.”
Tôi hiểu rằng tình yêu thương không phải là sự gượng ép. Nó là những ngày tháng kiên nhẫn gieo những hạt mầm ấm áp bằng sự chân thành nhất. Cuộc đời có thể dồn người ta đến những bến bờ xa lạ, nhưng ngọn hải đăng mang tên gia đình luôn thắp sáng để soi đường cho những bước chân lạc nhịp tìm về. Trân trọng từng bữa cơm bình dị, hơi ấm của người bạn đời và nụ cười vô lo của con trẻ – bởi ngoài kia có bao người đã phải đánh đổi cả xương máu và tuổi trẻ chỉ để mong cầu một buổi chiều được nghe tiếng gọi “ba” thiêng liêng.





