Chiếc mặt dây chuyền rơi xuống nền xi măng, chỉ phát ra một tiếng cạch rất khẽ. Vậy mà tôi có cảm giác cả doanh trại vừa nín thở.
Hôm ấy là cuối tháng Mười Một năm 2002, ngày tôi xuất ngũ. Gió mùa đông bắc thổi lá bàng khô lăn dọc hiên, những chiếc ba lô bạc màu nằm san sát dưới mái. Đám lính trẻ chúng tôi đứa cười, đứa đứng ngẩn ra, biết rằng chỉ vài giờ nữa hai tiếng đơn vị sẽ thành một miền ký ức.
Tôi là Nguyễn Hữu Tâm, hai mươi lăm tuổi, quê Hải Hậu, Nam Định. Nhà chỉ có hai mẹ con. Mẹ tôi, bà Nguyễn Thị Thu, quanh năm làm ruộng, nông nhàn thì nhận vá may cho xóm. Tôi lớn lên giữa tiếng máy khâu lạch cạch và những bữa cơm rau luộc chấm tương, nhưng bao giờ mẹ cũng nhường tôi phần ngon hơn.
Tôi chưa từng biết mặt cha. Hồi nhỏ hỏi mãi, mẹ chỉ khựng tay trên đường kim rồi đáp: “Bố con là bộ đội. Lớn lên mẹ sẽ nói.” Tôi lớn dần, mẹ càng ít nói. Sau này tôi mới hiểu, có những câu hỏi không phải người ta không muốn trả lời, mà mỗi lần trả lời là phải tự tay mở lại một vết thương.
Miếng đá xanh xám ấy chỉ to bằng hai đốt ngón tay, hơi bầu, cạnh không đều, chẳng đáng tiền. Trước ngày nhập ngũ, mẹ tự buộc nó vào sợi dây đeo lên cổ tôi. Tôi cười: “Bùa hả mẹ?” Mẹ lườm: “Bùa bà gì, đồ cũ thôi. Nhưng mẹ giữ nhiều năm rồi, con mang theo cho mẹ yên lòng.” Tôi chẳng hỏi thêm.
Giờ, một đôi giày quân dụng dừng ngay trước mặt tôi. Tôi ngẩng lên: thượng tá Trần Đức Vinh, trung đoàn trưởng, người ít nói đến mức chỉ cần đứng im nhìn là đám lính trẻ tự chỉnh lại hàng ngũ. Ông cúi xuống nhặt mặt đá. Tôi vội nói: “Báo cáo thủ trưởng, để tôi.” Nhưng ngón tay ông đã chạm vào nó, và chỉ trong vài giây, sắc mặt ông đổi hẳn.
Ông lật mặt sau. Ở đó có hai nét cong nhỏ lồng vào nhau, ký hiệu tôi đã thấy cả trăm lần mà chưa bao giờ hiểu nghĩa. Gần một cạnh còn có vết khuyết bé xíu. Ông miết đầu ngón tay lên chỗ khuyết ấy, và tôi thấy bàn tay ông run. Điều đó làm tôi hoảng hơn bất cứ tiếng quát nào.
“Cậu lấy vật này ở đâu?” “Mẹ tôi cho.” “Bà cụ tên gì?” “Nguyễn Thị Thu.” Ông khẽ hít vào, đôi mắt vốn bình tĩnh như bị phủ một lớp gì đó. “Mẹ cậu có từng ở Hà Nội không? Khoảng năm 1977?” Tôi nhíu mày. Sao ông biết? Ông không đáp, chỉ đặt mặt đá vào lòng bàn tay tôi. “Làm xong thủ tục, cậu ở lại gặp tôi.” Đi được vài bước, ông dừng, không quay lại, hỏi: “Mẹ cậu… vẫn khỏe chứ?”
Cả buổi bàn giao, đầu óc tôi chỉ quay quanh tên mẹ, quê mẹ, Hà Nội, năm 1977. Chiều ấy ông Vinh không đi xe đơn vị, chỉ xách túi nhỏ bắt xe khách cùng tôi. Suốt đường ông lặng thinh, thỉnh thoảng đưa tay chạm vào chiếc ví da cũ nơi túi áo ngực.
Chiều muộn, gió đồng lùa lạnh cắt. Tôi thấy mái ngói cũ sau hàng cau và vui như một đứa trẻ. “Mẹ ơi, con về rồi!” Cánh cửa bật mở, mẹ bước ra, hai tay còn ướt nước. Mặt bà bừng lên, nhưng chỉ một giây sau ánh mắt bà vượt qua vai tôi. Nụ cười tắt hẳn. Chiếc rổ nghiêng khỏi tay, mấy cọng rau cải rơi xuống nền gạch.
Thượng tá Vinh đứng ngoài cổng, không dám bước thêm. Ông gọi rất khẽ: “Thu.” Mẹ run lên, môi mấp máy mãi mới thành tiếng: “Anh… còn sống.” Tôi lạnh cả sống lưng. Mẹ vừa nói gì? Mẹ không đáp, chỉ cúi xuống nhặt rau mà bàn tay cứ rờ hụt. Tôi phải giữ lấy cổ tay bà. Trong gian nhà, không khí đặc quánh đến khó thở. Tôi hỏi thẳng: “Mẹ biết thủ trưởng từ trước khi sinh con, phải không?”
Mẹ vân vê vạt áo nâu, nước mắt đã dâng đầy. “Tâm, người đang đứng trước mặt con là bố con.” Tôi đứng bật dậy, chiếc ghế cạ xuống nền kêu ken két. Hai mươi lăm năm tôi hỏi, mẹ bảo bố là bộ đội, mất liên lạc. Giờ tôi vừa xuất ngũ, một người từ đơn vị theo về, mẹ lại bảo đó là bố tôi sao?
Ông Vinh không nói. Ông rút chiếc ví, mở túi vải bạc màu, đặt một mặt đá xanh xám lên bàn. Tôi cởi sợi dây trên cổ, đặt miếng của mình cạnh đó. Riêng từng miếng thì chẳng có gì đặc biệt, nhưng khi chạm vào nhau, đường vân xám chạy qua cả hai gần như nối liền. Hai nét cong phía sau giống hệt. Và khi ông ghép hai cạnh khuyết sát nhau, chúng khít lại thành một khuyết tròn hoàn chỉnh.
Mẹ che miệng. Tôi hỏi, giọng khản đặc: “Cái này là sao?” Mẹ nhìn hai mảnh đá rất lâu, rồi nói bằng giọng của một cô gái mười chín tuổi bị bỏ lại từ hai mươi lăm năm trước: “Ngày xưa, hai miếng ấy vốn là một. Người cắt nó làm đôi… là ông ấy.” Tôi nhìn ông Vinh, ông không né mắt.
……………………………………………
👇👇👇
Mẹ kể, chậm rãi như đang bóc từng lớp vỏ. Năm 1977, bà mười chín tuổi, mồ côi, theo dì lên Hà Nội rồi xin vào làm việc nhà ông Trần Văn Bách ở Gia Lâm. Ở đó bà gặp Vinh, người con cả đang là sĩ quan, ít nói, hay cúi sửa chiếc xe đạp ngoài sân. Hai người chẳng có lời tỏ tình nào. Chỉ có một lần ông cầm hộ bên quang nước, một lần ông cắt lại quai đôi dép cho bà, rồi tình cảm cứ thế lớn lên.
Ông Bách chê bà nghèo, mồ côi, từng là người làm. Vinh cãi: “Con lấy vợ để sống với con, không phải để người ngoài nhìn.” Rồi họ đăng ký kết hôn, thuê một gian phòng nhỏ. Chưa được bao lâu, đơn vị anh có lệnh cơ động đi xa. Trước hôm đi, anh nhờ thợ cắt một miếng đá làm đôi, khắc hai nét cong lồng vào nhau. Một miếng anh giữ, một miếng đeo lên cổ bà. “Lỡ mất thì sao?” “Thì người mất phải đi tìm.”
Mẹ viết thư báo tin, nhưng lá đầu bị trả về vì đơn vị đã đi. Lá thứ hai, bà nhờ người em cùng cha khác mẹ của Vinh là Lộc chuyển giúp. Hắn cười, nhét thư vào túi áo, và chưa bao giờ gửi đi. Ít lâu sau, chiếc nhẫn vàng gia truyền của nhà họ Trần biến mất. Người ta lục hòm của mẹ và tìm thấy nó nằm dưới đáy. Bác Được, người làm kho, được gọi vào làm chứng, chỉ lí nhí rằng có thấy bà vào buồng. Mẹ hỏi: “Bác có tận mắt thấy tôi lấy không?” Ông ta cúi gằm, không đáp được.
Ông Bách bảo bà thu xếp đồ mà đi. Mẹ nói mình có thai, xin được gặp Vinh hoặc ít nhất gửi cho anh một lá thư, nhưng lá thư ấy cũng bị giữ lại. Đêm đó, một cô gái mười chín tuổi gói vài bộ quần áo, một mặt đá và đứa con chưa chào đời, rồi bước qua cổng. Hôm sau, có người đuổi theo nhắn rằng Lộc bảo Vinh đã nghe chuyện chiếc nhẫn và không muốn gặp bà nữa. Mẹ chỉ nói: “Tôi biết rồi.” Rồi quay đi.
Tôi nghe mà tay lạnh ngắt. Chiếc nhẫn chẳng biết nói, vậy mà người ta bắt nó nói thay tất cả, và rất nhiều người muốn tin một món đồ hơn tin một con người. Ông Vinh kể phần của mình: năm 1979 ông về tìm, chỉ nghe “bà ấy bỏ đi rồi”, Lộc còn nói chiếc nhẫn tìm thấy trong hòm chị ấy. Mẹ nói khẽ: “Em nghĩ nếu anh còn cần mẹ con, anh sẽ tìm.” Hai người nhìn nhau, mỗi người tưởng cánh cửa bên kia đã đóng.
Vài tuần sau, giấy xét nghiệm xác nhận chúng tôi là cha con. Ông Vinh gấp tờ giấy lại, mắt đỏ, khẽ nói: “Giấy này chỉ chứng minh bố là bố ruột con. Hai mươi lăm năm vắng mặt, chẳng tờ giấy nào xóa hộ được.” Tôi chưa gọi lại tiếng ấy.
Rồi một người lạ mang phong bì dày đến, nói Lộc gửi mẹ hai mươi triệu, kèm tờ giấy bảo bà ký rằng không đòi hỏi gì về chuyện cũ nhà họ Trần. Mẹ đẩy phong bì lại: “Tôi nghèo thật, nhưng hai mươi lăm năm nay chưa từng bán tiếng trong sạch của mình.”
Ít lâu sau Lộc lại mời tôi vào công ty Đông Phát ở Hà Tây. Tôi biết đó có thể là cái bẫy, vẫn nhận, vì mẹ từng bị đẩy vào đường cùng mà vẫn đứng được. Tôi làm theo dõi phiếu xuất nhập. Tôi chỉ ký đúng ô của mình, đúng phần việc của mình. Vậy mà ba hôm sau lô thép lớn xuất kho, họ gọi tôi lên phòng, đặt trước mặt tôi một phiếu xuất hàng có ba chữ Nguyễn Hữu Tâm, nét ký giống đến rợn người. Tôi nói: “Đây không phải chữ ký của tôi.” Công ty đình chỉ tôi để xác minh.
Tối ấy mẹ nhìn tôi rất lâu: “Giống như ngày xưa, phải không con? Lần này họ không giấu nhẫn vào hòm, họ giấu chữ ký vào giấy.” Ông Vinh hỏi tôi nhớ gì nhất về hôm lô hàng đi. Tôi nhắm mắt, rồi bật dậy: chiếc xe tải. Tôi lần theo biển số, tìm đến một xưởng sửa xe nhỏ. Cuốn sổ bìa xanh của ông thợ ghi rõ chiếc xe nằm đó tháo hộp số suốt ba ngày, đúng những ngày nó được ghi là đã chở thép.
Chị Tuyết, kế toán, hẹn tôi ở quán nước, lặng lẽ đưa một liên giấy than mỏng màu xanh: tờ phiếu gốc, không có chữ ký của tôi. Anh Quý, người trưởng kho, tìm tôi bên bờ mương, nói bằng giọng khô: “Tôi nợ ông Lộc. Tôi ký sai lượng hàng, còn chữ ký giả là do anh Mạnh làm.”
Còn bác Được, ông già ấy quỳ trước mẹ tôi, run rẩy thú nhận: chính Lộc đưa nhẫn, ông chỉ vì thằng con bệnh nặng mà đem giấu vào hòm bà. Mẹ không đỡ ông bằng lòng rộng lượng cho đẹp. Bà chỉ nói: “Tôi hiểu cái khổ của bác. Nhưng hai mươi lăm năm của mẹ con tôi không phải một lời xin lỗi là xóa được.” Chị Hảo mang đến lá thư cũ của mẹ, giữ từ năm 1998, chưa bao giờ đưa. Mẹ hỏi: “Chị sợ nhà mình tan à? Thế chị có nghĩ nhà em đã tan từ hai mươi lăm năm trước không?”
Rồi đến một buổi chiều ở kho cũ ngoại thành, Lộc đối diện anh mình. Ông Vinh chỉ đáp: “Cha đối xử với chú bất công, anh biết. Nhưng Thu đã làm gì chú? Đứa con chưa sinh của anh đã làm gì chú?” Lộc im bặt. Người ta bước vào, mang theo liên giấy than, cuốn sổ sửa xe, lời khai. Một lời nói dối che được một tờ giấy, nhưng không che nổi từng ấy con người.
Ba năm sau, một chiều cuối thu, tôi về nhà và thấy trên tủ gỗ một chiếc hộp nhỏ. Hai mặt đá xanh xám nằm cạnh nhau, đường vân vẫn gần như nối liền. Mẹ khép nắp hộp. Ngoài sân, bố đang ngồi dưới gốc cau sửa chiếc ghế nhỏ. Tôi gọi một tiếng, ông khựng tay giấy nhám. Tôi gọi lần nữa: “Bố.” Ông quay lại, mắt đỏ hoe, chỉ đáp: “Ừ. Bố đây.” Mẹ quay đi rất nhanh, bảo khói bếp bay vào mắt, dù bếp cách đó cả một gian nhà.





