Đang lau di ảnh chồng cũ, cậu bé chỉ tay nói chú này ngày nào cũng bán rau ngoài chợ, tôi run rẩy đi theo và….
Cậu bé chỉ thẳng vào di ảnh chồng cũ của tôi, giọng nói trong veo như đang kể chuyện hôm qua: “Chú này ngày nào cũng bán rau ở chợ mà cô.”
Chiều cuối tháng mười, nghĩa trang ven sông Đáy còn loang nước sau cơn mưa thu. Gió lùa qua hàng bạch đàn xào xạc, mùi đất ẩm quyện với cỏ dại lạnh buốt cả cổ áo. Tôi, Nguyễn Thu Lan, bốn mươi sáu tuổi, đang quỳ nhổ từng bụi cỏ quanh chân bia của Trần Minh Đức, người đàn ông từng là chồng tôi mười sáu năm. Hôm ấy là giỗ thứ tư của anh.
Tôi lau tấm ảnh nhỏ trên bia. Đức của nhiều năm trước, tóc còn đen, trên lông mày phải có vệt sẹo mảnh do hồi trẻ ngã xe. Tôi vừa phủi giọt nước mưa đọng trên kính thì tiếng bóng nhựa nảy bộp bộp vang lên sau lưng. Một cậu bé chừng chín tuổi đứng cạnh bà ngoại tóc đã bạc quá nửa, mắt nhìn chằm chằm vào di ảnh.
“Cháu nhìn nhầm người rồi,” tôi cố cười, cổ họng bắt đầu khô lại.
“Không nhầm đâu ạ. Chú bán rau ở chợ Cầu Mới, mẹ cháu mua suốt. Chú có cái sẹo ở đây này.” Nó chỉ lên lông mày phải của mình. “Với chú đi hơi kéo một chân. Hôm nào vắng khách chú còn cho cháu mấy quả cà chua bé.”
Bà ngoại vội kéo tay cháu xuống, miệng mắng khẽ. Nhưng tôi đã đứng sững. Gió thổi ngang nghĩa trang, và tôi nghe rõ từng chiếc lá bạch đàn va vào nhau.
Tôi mở điện thoại, tìm tấm ảnh cũ chưa từng xóa: Đức đứng trước kho rau, vết sẹo hiện rõ. Tôi đưa cho thằng bé. Nó chỉ liếc vài giây. “Đúng rồi. Nhưng ngoài chợ chú già hơn, tóc bạc nhiều, người gầy nữa.” Chiếc khăn giấy rơi khỏi tay tôi. “Mọi người gọi chú là gì hả cháu?” “Chú Đức Rau.” Tai tôi ù đi. Tôi phải vịn vào mép bia mới đứng vững. Dưới tay tôi là cái tên Trần Minh Đức, là ngày mất, là bốn năm khói hương. Bà cụ hốt hoảng đỡ lấy tôi, tôi chỉ kịp hỏi đường tới chợ, rồi bước nhanh ra xe. Nếu thằng bé sai, tôi chỉ mất một buổi chiều. Còn nếu nó đúng, thì người nằm dưới ngôi mộ tôi vừa thắp hương suốt bốn năm là ai?
Chợ Cầu Mới, cách đó hơn ba mươi cây số, hiện ra khi trời vừa sẩm tối. Người bán đang thu hàng, mùi rau héo, đất ẩm và khói bếp trộn vào nhau. Bà chủ quán nước chỉ tay về cuối dãy: “Chú Đức Rau hả? Người hiền, ít nói, ai khó khăn thì bán chịu.”
Tôi đứng cách anh mười mét. Người đàn ông đang ngồi xổm buộc những bó cải còn sót lại, áo nâu bạc màu phủ lên tấm lưng gầy đi nhiều, chân trái duỗi lệch. Tôi nhận ra ngay cách anh cuộn sợi dây nilon: hai vòng dưới, một vòng chéo ngang, kéo nút bằng ngón cái. Mười sáu năm vợ chồng, có những thói quen nhỏ mình chẳng bao giờ nghĩ sẽ nhớ, cho đến lúc nhìn lại mới biết nó đã nằm sâu trong đầu từ bao giờ.
“Anh Đức.”
Bó cải trên tay anh rơi xuống đất. Anh quay đầu, gương mặt già đi nhiều, gò má hóp, dưới mắt thâm quầng, nhưng vết sẹo ở lông mày phải vẫn còn nguyên. Anh nhìn tôi rất lâu, ánh mắt từ xa lạ chuyển sang kinh ngạc, đôi môi mấp máy: “Lan…”
Một người đã nằm dưới đất bốn năm vừa gọi đúng tên tôi. Đầu gối tôi mềm nhũn.
Rồi anh lùi lại, mặt tái đi, mắt liếc nhanh hai bên chợ. “Đừng gọi tên anh ở đây. Nhỏ thôi, Lan.”
Một người phụ nữ ngoài sáu mươi vội bước sang, đứng chắn trước mặt anh, nhìn tôi đầy dè chừng. Đó là bà Mến. Mười phút sau, tôi ngồi trong căn nhà cấp bốn đơn sơ của bà, trước chén nước chè nóng, và nghe bà kể: gần bốn năm trước, bà đi lấy rau từ bốn giờ sáng thì thấy dưới bờ kênh có người nằm bất tỉnh, sau đầu dính máu khô, không ví, không điện thoại, không một mảnh giấy tờ. Bà gọi người đưa anh vào bệnh viện huyện. Cứu được, nhưng trí nhớ thì vỡ vụn.
“Nó biết cầm đũa, biết tính tiền, biết rau nào non rau nào già,” bà nói. “Nhưng hỏi quê đâu, bố mẹ là ai thì không biết. Chỉ nhớ máng máng mình tên Đức.”
Tôi hỏi anh có nhớ em không. Anh nhìn tôi, lắc đầu rất khẽ. Chỉ một cái lắc đầu thôi mà tôi thấy đau kỳ lạ.
Tôi bật cười khan: ở quê, người ta đã làm đám tang cho anh từ bốn năm trước. Bà Mến chết lặng, đặt chén nước xuống, bàn tay hơi run. Đức nhìn đôi tay chai sần của mình rồi kể: ba ngày trước, một người bạn hàng cũ tên Phương đi ngang chợ, thấy anh liền đánh rơi cả túi rau, gọi đúng họ tên, nhắc tên mẹ, nhắc em trai, nhắc cả tôi. Đêm đó anh đau đầu dữ dội, những hình ảnh chớp lên rồi tắt: cổng nhà, kho rau, mâm cơm, một người phụ nữ ngồi ghi sổ. Sáng hôm sau anh theo địa chỉ về quê.
“Anh đã gặp mẹ chưa?” tôi hỏi.
Anh im rất lâu, hai bàn tay siết chặt. Rồi giọng anh khàn hẳn:
“Lan, mẹ biết anh còn sống. Nhưng họ không muốn anh sống.”
……………………………………………
Câu nói ấy mắc lại trong tôi như một cái gai. Tôi chợt nhớ căn nhà cũ nơi mình đã sống mười sáu năm, nơi mọi vết nứt bắt đầu từ những câu nói rất nhỏ. Tôi mất hai thai, bác sĩ bảo khả năng có con tự nhiên rất thấp. Bà Tâm không mắng, chỉ đổ từng giọt: “Nhà người ta tối ngày ồn ào mà vui.” Đức nghe thấy, cúi xuống gắp rau, không nói một lời. Tôi chẳng cần anh cãi mẹ, chỉ cần anh nói một câu “mẹ đừng nói thế”. Nhưng anh không nói.
Đúng lúc khoảng cách ấy xuất hiện, Vinh, em trai Đức, xin vào làm ở kho rau. Cậu ta nhanh miệng, khéo nói, được mẹ cưng chiều từ nhỏ. Mấy tháng đầu yên ổn. Sang tháng thứ tư, tôi giữ sổ sách bắt đầu thấy những con số lạ: khoản tạm ứng không phiếu cân, tiền cọc cho chủ vườn mà hàng không về. Tôi gọi điện cho từng chủ vườn, có người nói chưa từng nhận đồng nào. Hai tuần đối chiếu mỗi đêm, tôi cộng được gần bảy trăm tám mươi triệu không giải thích nổi. Tối ấy, giữa bữa cơm đủ mặt cả nhà, tôi đặt cuốn sổ xuống bàn. Vinh cười nhạt. Đức nhìn em, rồi nói: “Cho chú ấy thêm ít thời gian.” Tôi thất vọng không vì thời gian, mà vì sau khi thấy từng con số, anh vẫn sợ em trai phật ý hơn sợ công sức vợ chồng mình bị rút ruột.
Từ hôm đó, điện thoại Đức liên tục nhận tin nhắn từ số lạ kèm những bức ảnh tôi bước lên xe ông Hòa, khách hàng của kho. Ảnh nào cũng thật, nhưng đều bị cắt đúng chỗ để người xem hiểu sai. Tôi giải thích từng lần, đưa cả lịch làm việc. Đức nghe, rồi bắt đầu hỏi: hôm nay em đi đâu, về với ai. Vinh nhún vai: “Em chỉ nói cái em thấy.” Một câu vô hại, nhưng nó đặt đúng hạt cát vào chỗ đã nứt. Đến bữa cơm cuối cùng, Đức hỏi tôi có gì với ông Hòa không. Tôi hỏi lại: “Anh tin em hay tin những tấm ảnh?” Anh nhìn xuống bàn, không trả lời. Tôi gật đầu: “Em hiểu rồi.” Sáng hôm sau, tôi làm thủ tục ly hôn, không đòi mảnh đất đứng tên riêng của anh, chỉ lấy phần thuộc về mình. Khi tôi kéo vali ra cổng, bà Tâm nói với theo: “Đàn bà bỏ nhà chồng, sau này đừng hối hận.”
Hai năm sau, chính ông Hòa vô tình nhắc lại chuyện cũ khiến Đức bàng hoàng. Anh lục thùng đồ hỏng trong kho cũ, tìm thấy chiếc điện thoại Vinh từng dùng, khôi phục được những dòng tin nhắn: mua số lạ, chọn ảnh, “cho nó biến khỏi nhà trước khi nó đảo hết sổ”. Anh viết cho tôi một lá thư xin lỗi, bỏ vào phong bì cùng chứng cứ. Nhưng Vinh còn nợ một người tên Dũng hơn một tỷ ba trăm năm mươi triệu, và đang nhắm vào mảnh đất bảy trăm mét vuông của anh. Đêm đó, Vinh gọi anh ra kho cũ. Cãi vã nổ ra, Dũng túm cổ áo anh, một cú trượt chân, sau đầu anh đập vào bệ bê tông. Đức chỉ còn nhớ mùi xăng, tiếng cửa xe, rồi khoảng trắng.
Cũng đêm ấy, chiếc xe tải đứng tên anh bốc cháy trên đường tỉnh. Người trong xe cháy biến dạng, nhưng có ví, điện thoại, giấy tờ của Đức. Vinh đến nhận và gật đầu: “Đúng là anh trai tôi.”
Bốn năm sau, khi nhớ lại tất cả, Đức về nhà. Bà Tâm ôm con khóc nấc, nhưng Vinh khóa trái anh trong gian kho, nói bóng gió rằng anh sống lại thì đất đai, tiền bảo hiểm đều bị lật. Sáng hôm sau, bà Tâm mở cửa, nhét vào tay anh một xấp tiền: “Con đi đi, thương mẹ, nó còn vợ còn con nhỏ.” Đức hỏi rất chậm: “Thế con thì không phải con mẹ à?” Bà cúi đầu. Bốn năm trước người ta dựng cho anh một ngôi mộ khi anh còn thở. Sáng ấy, anh mới hiểu thế nào là bị chôn sống.
Tôi không tin chỉ bằng nước mắt. Tôi cùng anh đến cơ quan công an, tra hồ sơ bệnh viện, tìm lại chú Lộc từng làm bốc vác, người thấy hai người dìu một kẻ bất tỉnh lên xe tải đêm ấy. Rồi Lệ, vợ Vinh, gọi cho tôi, đưa chiếc phong bì cũ ố vàng mang tên tôi, nét chữ của Đức. Cô giấu nó suốt bốn năm vì sợ. Giờ cô nói: “Em chịu đủ rồi.” Chúng tôi mang tất cả giao cho cơ quan chức năng. Ngôi mộ được mở lại để đối chiếu. Mấy ngày sau, kết quả báo về: người nằm dưới tấm bia mang tên Trần Minh Đức không có quan hệ huyết thống với bà Tâm. Đó là Nguyễn Quốc Dũng, kẻ chủ nợ mất liên lạc từ đêm ấy. Anh ta khoác nhầm áo của Đức, mang ví và giấy tờ của Đức, rồi lái chiếc xe định mệnh. Còn Vinh, người biết rõ cả hai, vẫn đứng trước thi thể gật đầu.
Vinh đưa mẹ tờ tường trình bắt bà ký rằng chưa từng thấy Đức trở về. Bà Tâm nhìn tờ giấy rất lâu, nhớ lời con trai cả hỏi sáng hôm ấy, rồi xé đôi nó: “Mẹ không muốn vì cứu mày mà chôn thêm một người nữa.”
Chiều ấy tôi cùng Đức quay lại nghĩa trang. Khoảng đất cũ đã được san phẳng, cỏ non nhú ở mép. Anh cầm tấm di ảnh của chính mình bằng hai tay, cười buồn: “Nhìn trẻ thật.” Gió thổi qua hàng bạch đàn, giống hệt buổi chiều tôi gặp cậu bé hôm nọ. Anh hỏi anh còn cơ hội không. Tôi nói em tha thứ cho anh, nhưng tha thứ không phải trở về chỗ cũ. Anh cúi đầu, không năn nỉ. Tôi đứng lại rất lâu bên khoảng đất trống, nơi một người xa lạ đã nằm thay anh suốt bốn năm.





