Toàn thân tôi bị trói chặt bằng dây thừng gai. Chiếc áo khoác rách tơi tả vấy đầy máu tươi và bùn lầy. Tấm thẻ ngành còn ép chặt bên ngực. Tôi nghe rõ tiếng bánh xe tải rít trên đường đất sỏi và tiếng bước chân nặng nề hung hãn của ba bốn gã đàn ông đang bàn tính ném xác tôi xuống khúc sông vắng để phi tang. Chúng kéo lê tôi trên sỏi đá, miệng buông những lời chửi bới man rợ rằng chỉ cần quẳng con mụ này đi là xong chuyện. Ý thức tôi cứ lịm dần. Tôi chấp nhận mình sắp ch/ết.
Đúng khoảnh khắc ấy, từ đám cây rậm rạp bên bờ mương, một tiếng động bất ngờ vang lên. Một bóng người gầy gò đen nhẻm lao ra, cắn mạnh vào tay gã cầm đầu rồi kéo tôi trượt xuống rãnh nước sâu ngập ngụa cỏ lác. Đó là một cậu bé nghèo đi chăn bò sớm, manh áo rách vai, chân không dép. Thằng bé liều lĩnh đối đầu những gã to xác. Nó cõng tôi trên tấm lưng trần gầy chơ xương, luôn lách qua từng bụi lau để đưa tôi trốn thoát. Tôi ngất đi trong vòng tay run rẩy nhưng kiên định ấy.
Khi tỉnh lại, trời đã xế trưa. Mùi khói rơm và thảo mộc nồng nặc trong căn tròi sơ sài. Toàn thân tôi đau nhức dữ dội. Những vết chói bầm tím đã được đắp lá thuốc rừng. Cậu bé ngồi chồm hổm bên góc bếp, cặm cụi thổi lửa hâm bát cháo loãng. Tôi vừa cất tiếng cảm ơn thì nó giật mình quay lại, cúi đầu lúng túng vén tóc bết mồ hôi ra sau gáy.
Tim tôi như ngừng đập. Hơi thở nghẹn ứ. Ngay sau gáy thằng bé, dưới lớp da xạm đen vì sương gió, là một vết bớt màu đỏ thẫm hình cánh bướm treo nghiêng. Đó chính là dấu ấn thiêng liêng mà suốt mười bảy năm qua chưa một đêm nào tôi quên trong từng giấc chiêm bao đẫm nước mắt. Đứa trẻ cứu mạng tôi hôm nay chính là đứa con ruột thịt tôi đã đánh mất giữa dòng nước lũ năm xưa.
Tôi run rẩy bò tới, ôm chặt đôi vai gầy guộc của con mà khóc đến xé ruột xé gan. Thằng bé hoảng hốt né tránh, chẳng hiểu người đàn bà xa lạ này đang làm gì. Làm sao ngờ sau ngần ấy năm tìm kiếm tuyệt vọng, mẹ con tôi lại tương phùng giữa miệng vực tử thần.
Tôi quỳ sụp xuống, hai bàn tay dính máu níu lấy vạt áo vá chằng vá đụp của con. Nó lùi sát vách nứa, cầm chặt thanh củi khô giơ lên phòng thủ. Tôi nghẹn ngào hỏi tên. Nó chỉ ấp úng bảo người ta gọi nó là thằng câm, không cha không mẹ, sống nhờ cơm thừa nhà chủ trang trại. Nghe hai chữ ấy, ruột gan tôi đứt từng khúc. Đứa con tôi từng đứt ruột đẻ ra, từng hôn lên từng ngón tay nhỏ xíu, nay lại bị gọi bằng biệt danh tàn nhẫn như thế.
Nỗi đau đoàn tụ chưa kịp lắng xuống thì ngoài bờ kênh tiếng chó sủa rộ lên cùng tiếng xe máy gầm rú. Đám người truy sát tôi lúc sáng đang lần theo dấu máu tìm tới căn tròi. Chúng cầm hung khí, quát tháo đòi lùng sục từng gốc cây, thề sẽ băm vằm kẻ nào dám cản đường. Một bên là sự thật vừa mở ra, một bên là họng súng. Bản năng bảo vệ con trỗi dậy. Tôi kéo thằng bé nấp sau đống rơm, dặn nếu có chuyện gì thì men theo rãnh nước chạy về phía đồn. Nhưng nó không chịu trốn một mình. Bàn tay gầy nắm chặt cổ tay tôi, ánh mắt kiên định. Nó ra dấu bảo tôi ngồi yên trong hốc rơm rồi tự mình đẩy cửa bước ra ngoài đánh lạc hướng.
Nhìn bóng lưng nhỏ bé đơn độc đối mặt hiểm nguy, tim tôi thắt lại như bị nghìn mũi kim đâm. May sao sau một hồi lùng sục không thấy gì, đám giang hồ chửi thề rồi kéo đi. Tôi ôm chặt con vào lòng, nước mắt lăn dài. Tôi tự thề dù phải trả giá bằng mạng sống cũng phải đòi lại công bằng và cuộc đời xứng đáng cho con.
Mười bảy năm trước, tôi là cô gái trẻ ở vùng rốn lũ miền Trung. Năm mười hai tuổi, trận lũ quét đã cướp đi cả cha lẫn mẹ. Tôi vắt vẻo trên ngọn cây mít suốt một ngày một đêm, trơ mắt nhìn mái nhà tranh chìm trong biển nước. Sau đó tôi trở thành đứa trẻ mồ côi, bám víu bà con lối xóm bữa đói bữa no. Nỗi cô độc biến thành điểm yếu lớn nhất theo tôi suốt đời. Tôi lao vào học như điên, thi vào trường cảnh sát với hy vọng bộ cảnh phục sẽ che chắn sự yếu đuối bên trong. Nhưng mỗi đêm trong phòng tập thể lạnh lẽo, tôi vẫn thu mình vào góc tường, thèm khát một mái ấm đích thực.
Rồi tôi gặp người đàn ông hơn tôi vài tuổi. Tôi tin tưởng tuyệt đối, tôn sùng như chiếc phao cứu sinh. Khi biết mình mang thai, tôi khóc suốt một đêm vì hạnh phúc. Ngày sinh con trong trạm xá nghèo giữa tiếng gió rít, nhìn khuôn mặt đỏ hỏn của con nép vào ngực, tôi thấy cuộc đời như được tái sinh. Tôi đặt tên con là Hải Đăng. Vết bớt đỏ hình cánh bướm sau gáy con đỏ tươi như giọt son. Tôi cứ mân mê hôn lên đó mỗi lần cho bú.
Hạnh phúc ngắn ngủi. Người đàn ông ấy dần bỏ rơi mẹ con tôi. Tôi một mình ôm đứa con đỏ hỏn trở về căn nhà tuềnh toàng nơi rốn lũ, vừa chăm con vừa quay cuồng với công việc. Tôi bảo bọc con đến mức gần như hoang tưởng.
Mùa mưa năm đó đến sớm. Đúng đêm lũ dâng cao nhất, chú Ba Thuận – người hàng xóm từng liều mình ném cho tôi gói lương khô và áo phao năm xưa – đội mưa tìm đến. Chú quỳ thụp xuống, van xin tôi cứu mạng một lần nữa. Chú dúi vào tay tôi một bọc vải dầu, nói là tiền dưỡng già bị bọn cho vay nặng lãi truy lùng. Chú cầu xin tôi giữ hộ ba ngày. Linh tính mách bảo có điều bất thường, nhưng tiếng con khóc thét vì sét đánh khiến tôi buông bọc hàng chạy vào dỗ. Chính khoảnh khắc ấy, chú nhìn thấy vết bớt sau gáy con. Chú nhắc lại lời hứa năm xưa của cha mẹ tôi. Món nợ ân nghĩa làm mờ lý trí. Tôi gật đầu giữ hộ mà không kiểm tra.
Rạng sáng hôm sau, còi báo động xé tan màn mưa. Căn nhà vắng tanh. Bọc vải dầu vẫn trên bàn thờ, nhưng chiếc nôi của con trống rỗng. Một người đàn ông trạc bốn mươi, áo khoác gió sũng nước, tự giới thiệu là Hoàng Phong, cán bộ điều tra trọng án. Anh ta nói đội anh đang theo dõi đường dây của chú Ba, vừa thấy chú bế một bọc chăn nhỏ chạy ra bến đò. Anh đưa cho tôi chiếc lắc bạc khắc tên Hải Đăng, bảo nhặt được khi chú vấp ngã. Mọi rào cản trong tôi sụp đổ. Tôi khóc như đứa trẻ, van xin anh đưa tôi đi tìm con.
Chiếc xe bán tải lao vào khu đồi thông hoang vắng. Khi tôi đưa cốc nước lên môi, điện thoại của anh rơi xuống sàn, sáng rực với tin nhắn: thằng bé đã đưa về căn nhà ven suối chuẩn bị thủ tiêu. Tim tôi ngừng đập. Anh chộp lấy máy, giải thích đó là tin từ trinh sát ngoại tuyến. Nỗi sợ mất con bóp nghẹt lý trí. Tôi tin.
Ngôi nhà hai tầng xây dở giữa đám thông già. Một người phụ nữ gần năm mươi đứng đợi, trên tay cầm chiếc khăn len tôi tự đan cho con. Bà ta run rẩy gọi tên tôi. Phong rút súng chĩa vào lưng tôi, cười tàn nhẫn: mở khóa bọc tài liệu mật đi nếu muốn con toàn mạng. Người đàn bà lao tới chắn họng súng, hét lên: đừng bắn, nó chính là đứa con gái ruột tôi đã thất lạc trong trận lũ năm xưa.Sự thật ấy khiến tôi ngã khụy. Hoàng Phong không xuất hiện đột ngột……………….
……………………………………………
Một tháng trước anh ta đã được điều động về đơn vị tôi dưới danh nghĩa biệt phái. Anh luôn tiên phong gánh vác hiểm nguy. Đêm bé Hải Đăng sốt cao, chính anh cởi áo bọc con lội hơn năm cây số tìm bác sĩ, thức trắng thay khăn. Anh mang sữa, bánh, thuốc men, giữ khoảng cách đúng mực, thậm chí rơi nước mắt khi nghe hoàn cảnh mồ côi của tôi. Tôi coi anh như anh trai ruột.
Nhưng có những gợn sóng. Anh hay hỏi về gốc gác, kỷ vật cha mẹ tôi. Ánh mắt khi nhìn vết bớt sau gáy con có tia lạnh lẽo. Một lần tôi về nhà bất chợt thấy anh lục ngăn kéo tủ thờ cầm giấy khai sinh và di vật. Anh cười bảo muốn phơi nắng hộ. Tôi xấu hổ vì thoáng nghi ngờ.
Rồi anh lãnh nhát chém thấu vai thay tôi khi bị lâm tặc tấn công. Tôi túc trực chăm sóc, coi anh như người nhà. Tôi trao chìa khóa dự phòng, kể cả việc chú Ba từng giữ hồ sơ đất đai và giấy tờ chứng sinh của tôi. Bé Hải Đăng gọi anh là bác Phong. Anh mua bảo hiểm, đóng bàn học, sửa mái nhà. Một đêm anh mang bọc tiền trợ cấp thương tật, muốn góp mổ mắt cho con. Tôi từ chối thế nào anh cũng không chịu.
Linh tính gióng chuông. Một đêm mưa, điện thoại anh rung liên hồi. Tôi nghe anh gằn giọng ngoài hiên: tôi đã bảo bà không được gọi vào số này. Con bé bắt đầu để ý rồi. Món nợ máu năm xưa tôi sẽ tự tay đòi đủ. Khi tôi giẫm cành khô, anh cúp máy, quay lại với ánh mắt sắc lẹm rồi lập tức cười ấm áp, phân trần là chủ nợ của em trai. Nhưng tôi thấy rõ chiếc máy đen bóng lạ, biểu tượng mã hóa của giới giang hồ.
Ba ngày sau, tôi mở ba lô anh để quên. Bên trong có phong bì địa chỉ ngoại ô, sấp ảnh chụp lén nhà tôi từ nhiều tháng trước, tấm ảnh con bị khoanh mực đỏ. Dây chuyền bạc hình giọt nước giống hệt chiếc lắc. Anh đã theo dõi mẹ con tôi từ lâu. Đêm đó tôi cảm thấy có bí mật kinh hoàng dưới mái nhà này.
Đêm rằm, tôi vờ ngủ say. Khoảng một giờ sáng, Phong lẳng lặng bước vào phòng ngủ, cầm tấm bùa vải đỏ và nhúm tóc đặt vào gối con. Anh thì thầm: đáng lẽ mày và mẹ mày không nên sống sót sau trận lũ. Những gì gia đình mày nợ dòng họ tao, tao sẽ lấy lại. Tôi lần dưới gối thấy mảnh giấy ghi ngày sinh tôi cùng ký tự nguyền rủa. Tất cả chỉ là kịch bản để xóa sổ mẹ con tôi.
Sáng hôm sau tôi lấy cớ đưa con tiêm phòng, chạy sang nhà chú Ba. Căn nhà gỗ đang chìm trong biển lửa. Tôi bắt gặp bóng Phong đứng quan sát từ xa với ánh mắt lạnh tanh. Tôi vòng ra cổng sau, tìm thấy chiếc ví da anh đánh rơi. Bên trong có giấy báo tử mang tên Hoàng Văn Đạt, bản trích lục khai sinh ghi anh vốn là Bùi Thế Phong, con trai ông Bùi Thế Vinh – chủ thầu bị bố tôi phát giác gian lận rút ruột công trình dẫn đến vỡ đê. Tấm ảnh người phụ nữ quỳ trước nấm mồ vô chủ với dòng chữ đòi nợ máu.
Tôi run bắn. Không dám chất vấn vì vị thế yếu ớt. Sau tờ giấy khai sinh có dãy số nội bộ và con dấu mực đỏ cấp tỉnh mới đóng. Tôi tra cứu, đó là đường dây của vị cựu lãnh đạo từng đỡ đầu chồng tôi. Người tôi coi như bậc cha chú lại ký văn bản bảo lãnh đưa Phong về đơn vị.
Đêm đó Phong đốt tập tài liệu trong thùng tôn. Tôi nhặt mẩu giấy cháy dở: cái chết của thằng Tuấn chỉ là bước dạo đầu, phải khiến con vợ nó tự tay ký đơn từ bỏ mảnh đất thì bí mật dưới chân đập mới vĩnh viễn nằm lại. Chồng tôi không chết vì tai nạn sạt lở. Đó là vụ ám hại nhằm bịt đầu mối. Khu đất chúng tôi ở chính là nơi chôn giấu bằng chứng vụ vỡ đê năm 1998 – một thứ có thể vạch trần đường dây bip lớn do cha Phong và vị lãnh đạo cầm đầu.
Tôi thức trắng. Bốn giờ sáng nghe tiếng động. Phong mở vali, lôi máy đo kim loại và bản thiết kế, đối chiếu tọa độ với sơ đồ móng nhà tôi. Ánh đèn pin quét vào mắt tôi. Tôi giả vờ nói mớ. Anh đứng ngưỡng cửa vài giây rồi cười hiền từ.
Sáng hôm sau tôi mở vali bằng chìa dự phòng. Bên trong là hồ sơ quy hoạch cao tốc, khu đất chúng tôi nằm giữa nút giao nghìn tỷ. Dưới móng nhà từng là hầm chứa két sắt ban quản lý dự án năm xưa. Bản sao kê tài khoản mẹ đẻ Phong với khoản tiền bất minh. Vụ vỡ đê còn là biển thủ vàng cứu trợ. Bản dự thảo hợp đồng ủy quyền đã soạn sẵn, kèm lọ thuốc an thần Phong pha vào sữa tôi mỗi tối.
Tôi chụp ảnh rồi gọi đồng đội cũ của chồng. Bàn tay rắn như gọng kìm chụp lấy ống nghe. Phong đứng sau lưng, mắt đỏ ngầu: cô định gọi cho ai? Nếu còn mở miệng, thằng bé sẽ không còn nhìn thấy mẹ. Anh lôi tôi về nhà, ném điện thoại vỡ nát, cài then khóa ngoài. Tôi bị giam lỏng, bị biến thành kẻ điên trong mắt hàng xóm.
Đến tối hắn đặt sấp giấy tờ, lệnh tôi ký ủy quyền đất trước sáng mai. Nếu không, hắn sẽ tước quyền nuôi con và tống tôi vào bệnh viện tâm thần. Hắn nói cái chết của chồng tôi chỉ là khởi đầu, nếu ngoan cố thì Hải Đăng sẽ chịu chung số phận trong vụ đuối nước. Tôi cắn môi ứa máu, giả vờ run tay không viết nổi, xin thêm một đêm. Hắn khóa cửa sắt, để gã đàn ông canh ngoài.
Tôi áp tai nghe hai gã bàn bạc. Hắn nói sau khi có chữ ký sẽ cho xe tải tông thẳng vào xe chở mẹ con tôi trên đường đến công chứng, ngụy tạo thành vụ mẹ phát điên lao xe tự sát mang theo con. Chút hy vọng cuối cùng tan biến. Tôi quỳ trước bàn thờ chồng, nhớ lời dặn tháo khung gỗ phía sau ảnh cưới. Đằng sau là chìa khóa đồng và lá thư. Chìa mở hòm sắt dưới đáy giếng cạn góc vườn, nơi cất nhật ký công trình và bản ghi âm các cuộc trao đổi rút ruột.
Tôi buộc con vào ngực, dùng kéo cạy cửa sổ. Tiếng gió mưa che chở. Khi then bật, Phong gọi giật giọng. Tôi giả vờ làm rơi cốc, rồi tụt xuống vườn chuối, lội rạch bùn ngập ngực, lấy lá chuối ngụy trang. Tia đèn pin quét sát đỉnh đầu. Sau khi chúng đi, tôi bò lên, tìm đến tròi canh cá hoang phế, bật máy ghi âm. Giọng người đối thoại với Phong về vụ tai nạn năm xưa là giọng ông Trịnh – bác họ từng bảo lãnh chồng tôi nhận công trình. Ông ta chỉ đạo làm cho cano đắm thật tự nhiên, tuyệt đối không để anh sống sót mang hồ sơ về.
Tôi gửi toàn bộ lên đám mây, tìm ông Bảy – người lái đò từng vớt xác chồng. Ông thú nhận bị Phong dí dao, nhận năm mươi triệu để ngậm miệng, nhưng vẫn giữ thẻ nhớ camera hành trình. Hình ảnh xà lan cố tình lao vào mạn thuyền hiện rõ. Tôi gửi chứng cứ cho luật sư và đồng đội cũ của chồng.
Trong bản di chúc bố chồng có bức thư tạ tội: thời trẻ ông có con trai với phụ nữ nghèo, bỏ rơi vì áp lực gia tộc. Đứa bé có vết bớt đỏ sau gáy. Kèm giấy khai sinh của Phong và ảnh lúc bảy tuổi. Phong là anh cùng cha khác mẹ của chồng tôi, mang nặng hận thù vì nghĩ anh Tuấn cướp đoạt tất cả. Nhưng đoạn băng khác lộ ra ông Trịnh cười khẩy: thằng Phong cứ tưởng nó là con rơi, tao chỉ cần kích một chút là nó lao vào cắn xé thằng Tuấn. Người phụ nữ dưới bến đỏ và đứa bé đã chết vì bệnh. Phong chỉ là đứa mồ côi ông Trịnh nhận nuôi để làm công cụ.
Tôi gọi điện cho Phong, bảo đang cầm bản di chúc và máy ghi âm, nếu sau một tiếng không dẫn ông Trịnh đến tròi bến đỏ thì tài liệu sẽ nằm trên bàn cục cảnh sát hình sự. Hai chiếc xe lao đến. Phong cầm xà beng, ông Trịnh lịch lãm phía sau. Tôi bật loa phát đoạn băng: thằng Phong chỉ là con rối. Phong run bắn, quay sang ông Trịnh. Ông ta rút súng chĩa vào trán Phong: nếu mày không ngu xuẩn và tham lam thì làm sao tao điều khiển được mày. Hôm nay tao tiễn cả mày lẫn mẹ con nó xuống sông.
Tôi chỉ màn hình điện thoại đang phát sóng trực tiếp: toàn bộ hồ sơ đã chuyển viện kiểm sát. Nếu ông bóp cò, tội ác sẽ thành giết người có tổ chức. Ông Trịnh chĩa súng sang tôi. Phong gầm lên, lao ôm chặt ông Trịnh. Một phát súng sót vai Phong. Tôi đá súng ra xa. Còi hụ cảnh sát ập vào. Ông Trịnh bị còng. Tôi trao nộp chứng cứ.
Phiên tòa tuyên ông Trịnh tù chung thân. Phong mười tám năm. Tôi đưa hài cốt chồng về quê. Đứng trước nấm mộ, tôi thì thầm sự thật đã chiến thắng. Biệt thự ông Trịnh bị kê biên. Ông ta bị tai biến nửa người. Phong gửi thư từ trại, xin từ bỏ quyền thừa kế. Tôi mang sổ tay chồng đến thăm. Trong đó anh Tuấn tính trích nửa cổ phần mở xưởng cơ khí cho Phong, muốn tạo dựng sự nghiệp để em trai tự đứng. Phong gục đầu gào khóc.
Tôi mở tiệm may nhỏ. Mỗi sớm nhìn mầm xanh đâm chồi và nghe con đọc bài, tôi cảm nhận hạnh phúc đích thực chưa bao giờ nằm ở tiền tài. Những vết thương hóa thành vết sẹo nhắc nhở chặng đường đã vượt qua. Tôi bước tiếp bằng tình yêu thương, không còn gánh nặng oán thù.





