Mười năm thắp hương cho vợ, ngày nghỉ hưu ra thăm mộ, bà lão ăn xin thì thầm một câu khiến vị tướng đứng ch/ết lặng
Tôi quỳ một gối trước tấm bia mang tên vợ, bàn tay vẫn cầm chiếc khăn ướt, thì nghe sau lưng có tiếng chân kéo lê trên nền đất.
Một bà lão gầy guộc đứng đó, vai đeo bao tải chai nhựa. Bà nhìn tôi rất lâu rồi hỏi: “Ông là chồng cô Hạnh phải không?”
Tôi chưa kịp đáp thì bà nói tiếp, từng chữ chậm rãi: “Ông đừng vội thắp hương nữa. Sau cái ngày người ta bảo cô ấy chết, tôi còn gặp cô ấy ở bến xe huyện.”
Ba nén hương tôi vừa cắm vẫn đang cháy. Gió đồng thổi hanh, mùi rơm mới quyện với mùi nhang. Và trong khoảnh khắc ấy, tôi không còn dám chắc người nằm dưới lớp đất kia là vợ mình.
Tôi tên Thành, sáu mươi ba tuổi, vừa nghỉ hưu sau hơn bốn mươi năm trong quân đội. Chiều hôm ấy tôi không mặc quân phục. Tôi chỉ muốn là một người chồng đi thăm mộ vợ, sau mười năm chưa từng tự tay nhổ cho bà một nắm cỏ.
Mười năm trước, khi tôi đang ở đơn vị, họ hàng đồn vợ tôi, bà Hạnh, ngoại tình. Em trai tôi, Phúc, gọi lên báo chuyện đã ầm cả làng, bà xấu hổ bỏ đi. Vài tháng sau nó báo tiếp: Hạnh chết vì tai nạn trên đường vào miền Trung, thi thể không còn nguyên vẹn, gia đình đã hỏa táng, mang tro cốt về. Tôi về thì mộ đã xây. Tôi chưa từng nhìn thấy thi thể, chưa từng nói chuyện với ai ở nơi xảy ra tai nạn. Mọi thứ tôi biết đều đi qua miệng một người: em ruột tôi.
Vậy mà chiều nay, ngôi mộ ấy cỏ cao đến đầu gối, bia phủ rêu, bát hương lạnh tanh. Phúc từng bảo “em vẫn cho người trông nom”.
Tôi hỏi bà lão có nhớ nhầm người không. Bà lắc đầu, mở bao tải, lôi ra túi nilon gấp nhiều lớp. Bên trong là một tấm ảnh ố vàng. Tôi nhìn một cái đã thấy tim mình ngừng đập. Tôi mặc sơ mi xanh, Hạnh mặc áo hoa tím, đứng cạnh bụi hoa giấy sân nhà cũ. Mặt sau là nét bút bi nhòe của chính tôi: “Nhà mình, tháng 6 năm 2011.”
Bà Mùi kể đêm ấy Hạnh ngồi một mình ở góc nhà chờ, quần áo dính bùn, hai bên chỉ có một chiếc túi vải. Bà bẻ đôi nửa ổ bánh mì chia cho Hạnh. Sáng hôm sau Hạnh để lại cho bà chiếc áo khoác cũ, tấm ảnh nằm trong túi áo, và hỏi đường sang một ngôi chùa ở huyện bên. Bà còn nhớ bàn tay phải của Hạnh có vết sẹo gần ngón cái.
Tôi lạnh người. Vết sẹo ấy có thật: hồi mới cưới, Hạnh thái chuối cho lợn, dao trượt, phải khâu mấy mũi. Không bức ảnh nào cho thấy điều đó.
Nhưng tôi từng chỉ huy nhiều năm, tôi biết nghi ngờ chưa phải bằng chứng. Tôi hỏi tiếp về mốc thời gian. Bà đưa tôi tờ phiếu nhận đồ của đoàn từ thiện chùa Phúc An, đóng dấu rõ ràng. Ngày trên phiếu muộn hơn ngày khắc trên bia mộ vợ tôi đúng chín ngày.
Chín ngày. Con số ấy bám vào đầu tôi như cái gai.
Tối đó tôi về nhà, ngồi ăn cơm với vợ chồng Phúc như không có chuyện gì. Nó nhắc tôi rằng mảnh đất từ đường giờ có người trả giá cao, hai anh em nên tính cho rõ. Rồi nó nói một câu mà trước hôm ấy tôi sẽ chẳng để tâm: “Người mất rồi thì xây mộ lớn làm gì.”
Tôi không đáp. Tôi chỉ nhớ từng chữ.
Sáng hôm sau, tôi tìm ông Cẩn, người từng bán nước ở bến xe, nay đã gần tám mươi. Tôi che mặt mình trong tấm ảnh bằng một tờ giấy, chỉ để lộ Hạnh. Ông nhìn rất lâu, rồi nói: “Hồi ấy có người giống thế này ngồi với bà Mùi cả đêm. Sáng ra xin bình nước nóng, đưa tiền mà tôi không lấy, còn hỏi chuyến xe sớm nhất sang huyện bên.”
Tôi ngồi trong xe rất lâu, rồi bấm số người bạn cũ, anh Lâm, nguyên cán bộ công an huyện. Lần đầu tiên tôi nói thành lời điều mình vừa nghĩ: “Có khả năng vợ tôi chưa chết vào ngày gia đình báo tử cho bà ấy.”
Anh Lâm không vội kết luận. Anh bảo phải quay về trước ngày Hạnh rời làng. Hiếm khi một người đang sống yên ổn bỗng bị cả họ kết tội, bỏ đi, rồi mấy tháng sau bị báo chết, mà ba chuyện ấy lại hoàn toàn rời nhau.
Tôi kể anh nghe về mảnh đất hơn bảy trăm mét vuông mặt đường liên xã. Cha tôi, trước khi mất, giao giấy tờ và việc trông nom cho Hạnh, không phải cho Phúc. Mà Phúc khi ấy nợ cờ bạc, vay chỗ này đắp chỗ kia, lãi chồng lãi. Nó quỳ xin chị dâu cho bán đất. Hạnh không đồng ý, còn xé tờ giấy nó đưa. Có một câu bà nói với nó mà sau này tôi mới biết: “Chú còn cầm tiền nhà này đi trả nợ cờ bạc thì tôi sẽ nói thẳng với anh Thành.”
Câu ấy chạm đúng chỗ Phúc sợ nhất.
Tôi lục lại chiếc điện thoại cũ, tìm được hai bức ảnh chất lượng kém năm xưa người ta gửi cho tôi: một tấm Hạnh ngồi sau xe máy của một người đàn ông, một tấm hai người bước ra từ căn nhà cấp bốn lúc trời mới sáng. Ai nhìn cũng thấy “bằng chứng.” Nhưng anh Lâm hỏi tôi: có cảnh nào thân mật không? Có ai thấy họ ở cùng nhau cả đêm không?
Không. Hoàn toàn không.
Hai bức ảnh ấy đến tay tôi qua người em họ Dũng, Dũng nhận từ Phúc, Phúc nói do người quen ở chợ chụp.
……………………………………………
Chúng tôi lần theo từng mắt xích. Bà bán chè ở chợ cũ nhớ sáng hôm ấy xe đạp của Hạnh tuột xích, cong vành, rồi có một người đàn ông chạy xe máy đến, nói Phúc nhờ chở chị về. Người đó là Phạm Văn Sáng, một tay xe ôm từng nợ cờ bạc. Người sửa xe nhớ có một người phụ nữ ngồi ngoài hiên, mặt sốt ruột, chưa đầy hai mươi phút là đi. Không có chuyện qua đêm.
Tôi tìm được Sáng ở một kho hàng, nơi hắn làm bảo vệ. Tôi chỉ nói mình là chồng Hạnh. Mặt hắn biến sắc. Tôi đặt hai tấm ảnh lên bàn, hỏi: xe anh hôm đó thật sự xì lốp, hay có người bảo anh phải dừng ở căn nhà ấy? Hắn xin điếu thuốc, im rất lâu, rồi thú nhận: Phúc nhờ từ hôm trước, hứa trả công, bảo chỉ muốn “thử xem chị dâu có đứng đắn không.” Hắn nhận năm trăm nghìn. Suốt đường đi Hạnh giữ khoảng cách, ngồi chờ ngoài hiên, liên tục giục sửa nhanh để về trông mẹ chồng.
Người chụp ảnh là Bảy Nhân, thợ chụp ảnh cưới. Anh ta kể Phúc đưa hai trăm nghìn, dặn sáu giờ sáng đứng gần căn nhà đó, “chắc chắn sẽ thấy có chuyện.”
Hai mươi phút ngồi chờ sửa xe, thành một đêm ngoại tình. Chiều hôm ấy, khi họ hàng chất vấn, Hạnh nói chính Phúc nhờ Sáng tới đón. Phúc lớn giọng: “Tôi chưa bao giờ nhờ.” Chỉ một câu ấy đã khiến chị dâu tôi không còn ai tin.
Nhưng vẫn còn một câu hỏi cắn vào tôi: dựng chuyện ngoại tình để đẩy chị dâu ra khỏi nhà là một chuyện, sao còn phải biến bà thành người đã chết?
Chúng tôi tra hồ sơ đất. Sau khi Hạnh bỏ đi, Phúc nhiều lần làm đơn xin xác nhận hiện trạng, xin tách phần mặt tiền. Đơn bị trả lại vì địa phương yêu cầu làm rõ tình trạng người quản lý cũ, bà ấy bỏ đi chứ chưa chết, cũng không có ủy quyền. Lần trả cuối cùng cách ngày Phúc gọi báo tin Hạnh chết chưa đầy một tháng.
Anh Lâm nói một câu tôi nhớ mãi: “Giấy tờ để qua cửa hành chính, còn ngôi mộ là để qua cửa lòng người.” Có một cái hũ, một bàn thờ, một bia mộ, thì từ đó chẳng ai còn nghĩ đến chuyện kiểm tra. Chính tôi, mười năm, đứng trước tấm bia ấy mà chưa từng hỏi người nằm dưới là ai.
Hôm sau Phúc đưa tôi tập hồ sơ cũ. Tôi chụp tờ xác nhận hỏa táng gửi anh Lâm. Vài tiếng sau anh gọi lại, giọng căng: số hồ sơ ấy có thật, nhưng trong sổ gốc, người được hỏa táng theo số đó không mang tên Nguyễn Thị Hạnh. Tên Hạnh chỉ nằm trên bản sao gia đình tôi giữ.
Tôi nhìn Phúc đang đứng ngoài sân nói chuyện điện thoại. Có thể em tôi không giết Hạnh bằng dao hay thuốc. Nhưng nó đã giết tên tuổi bà trên giấy tờ.
Từ đó tôi chỉ còn một việc: tìm vợ. Bà Mùi nhớ lại ngôi chùa Phúc An. Bà vãi Nghiêm ở đó nhận ra Hạnh ngay trong ảnh. Bà kể Hạnh từng mượn điện thoại chùa gọi về, khóc rất nhiều rồi thôi, và nói một câu: “Ở nhà họ đã tin tôi là người xấu rồi, giờ có nói cũng chẳng ai nghe.” Trước khi rời chùa, Hạnh gửi lại ít tiền, dặn nếu sau này có người tên Thành đến tìm thì nói rằng bà vẫn còn sống nhưng chưa muốn trở về.
Nếu có người tên Thành đến tìm. Tôi đứng đó mà cả người như rụng xuống.
Từ chùa, từng người chỉ biết một đoạn: xưởng may của bà Loan, rồi một cơ sở may khác, rồi con ngõ nhỏ sau một khu chợ cách quê tôi hơn hai trăm cây số. Trước hiên có chiếc máy may cũ, dây phơi mấy chiếc áo sửa dở. Anh Lâm đứng lại ngoài đầu ngõ.
Cửa mở. Một người phụ nữ tóc bạc quá nửa, đeo kính, đứng lên từ chiếc máy may. Mười năm làm mặt bà gầy đi, lưng bà hơi còng, nhưng tôi nhận ra ngay.
Bà không chạy tới. Bà chỉ hỏi: “Ông tìm được tôi rồi à? Ông tìm vì nhớ vợ, hay vì bây giờ mới muốn biết tôi có thật sự ngoại tình hay không?”
Tôi nói: “Tôi tìm bà vì vừa biết cả đời mình có thể đã tin sai một chuyện.”
Hạnh kể bà từng gọi về nhà. Oanh, vợ Phúc, nghe máy rồi hốt hoảng tắt. Lần sau Phúc nghe, bảo bà đừng gọi nữa, rằng chính tôi nói: “Chị muốn đi đâu thì đi, đừng để anh ấy mất mặt thêm.” Tôi chưa bao giờ nói câu ấy. Họ lấy chính tên tôi để chặn đường về của vợ tôi. Sau này có người bán hàng rong nhận ra bà và hoảng hốt hỏi sao còn sống, bà mới biết ở quê đã lập bàn thờ. Rồi một cuộc gọi lạ đe dọa bà đừng quay về nếu không muốn liên lụy đến con. Hạnh sợ, và cắt hẳn liên lạc.
Bà mở chiếc hộp thiếc: chứng minh thư cũ, giấy tờ chùa Phúc An, sổ lương, phiếu tạm trú lập vài tháng sau ngày trên bia mộ. Tất cả sinh ra ở những nơi chẳng liên quan gì đến nhà tôi.
Tôi đặt tấm ảnh bà Mùi giữ suốt mười năm lên bàn. Hạnh nhận ra chiếc áo mình từng cho. “Bà ấy vẫn còn sống à?” bà hỏi. “Người nhà không tin tôi, một người ăn xin gặp tôi có một đêm lại giữ giúp tôi thứ này mười năm.”
Bà không đòi ai quỳ. Bà chỉ nói: “Tôi muốn tên tôi sạch.”
Tôi nộp toàn bộ tài liệu cho cơ quan có thẩm quyền, không tự ý đào mộ. Đêm khuya, Oanh gõ cửa phòng tôi, khóc. Cô thú nhận Hạnh đã gọi về nhiều lần sau ngày dựng bàn thờ. Phúc giật điện thoại khỏi tay vợ và cảnh cáo: muốn con cái yên ổn thì coi như chưa nghe thấy gì. Chiếc vòng bạc Phúc đưa tôi năm xưa để “nhận dạng”, thực ra nằm trong ngăn tủ của Hạnh từ trước ngày bà đi. Vật tôi từng coi là bằng chứng cuối cùng cho cái chết của vợ, hóa ra em tôi lấy ngay trong nhà.
Cuối tuần, tôi mời trưởng họ và vài người lớn tuổi về bàn chuyện bán đất. Phúc dọn sân từ sáu giờ sáng, tin chỉ còn thủ tục cuối. Tôi đặt hai bức ảnh xuống bàn, rồi hai bản tường trình của Sáng và Nhân. Phúc chối: “Chúng nhận tiền rồi đổ lỗi.” Tôi đặt tờ hỏa táng cạnh bản đối chiếu hồ sơ gốc. Oanh, lần đầu tiên, đáp lại chồng: “Tôi giấu giúp ông mười năm rồi, còn muốn tôi giấu đến bao giờ?”
Tôi hỏi nó: “Nếu chính chị ấy đứng ở đây thì sao?”
Rồi tôi quay ra cửa. Hạnh bước vào, áo nâu nhạt, tóc bạc quá nửa. Trưởng họ đặt chén nước xuống vì tay run. Dũng bật ra: “Chị Hạnh.” Phúc lùi sau chiếc ghế, mặt trắng bệch.
Bà đi thẳng đến bàn thờ cha mẹ tôi, chắp tay, rồi mới quay lại. Bà hỏi trưởng họ: “Nếu ngày đó mọi người chịu hỏi người sửa xe, hỏi người chụp ảnh trước khi kết tội tôi, tôi có phải bỏ nhà đi không?” Ông cúi đầu, rất lâu mới nói được: “Bác sai.”
Phúc quỳ xuống. Hạnh tránh sang bên. “Chú đừng quỳ tôi. Chuyện của chú, chú trả lời với pháp luật.”
Chuyện sau đó thuộc về cơ quan chức năng. Còn riêng chúng tôi, Hạnh không về nhà ngay. Bà ở với con gái gần một tháng. Con gái xin lỗi mẹ vì cuộc điện thoại năm ấy, và bà không trách. Tôi không có quyền bắt bà quên mười năm để tôi dễ chịu.
Một chiều, bà đòi ra nghĩa trang, mời cả bà Mùi. Hai người nhìn nhau thật lâu mới nhận ra nhau. Hạnh nắm tay bà cảm ơn. Bà Mùi chỉ nói: “Đồ của cô thì tôi giữ, gặp người nhà thì tôi trả.”
Chúng tôi đứng trước ngôi mộ mang tên Hạnh, bà bên cạnh tôi bằng xương bằng thịt. Bà không muốn nguyền rủa nó, vì người nằm dưới đó, dù là ai, cũng không có lỗi gì trong chuyện nhà tôi.
Sáng nay, bà ngồi nhặt rau ở sân nhà cũ, tôi ngồi bên uống trà. Không ai nhìn bà như một người đàn bà hư hỏng nữa, cũng không ai thắp hương cho bà như một người đã chết. Vậy mà thỉnh thoảng bà vẫn ngước lên nhìn cổng, như thể còn đang chờ một người tên Thành đến tìm, và tôi chợt nhận ra, mười năm ấy, tôi đã đến muộn mất rồi.





