Bị con dâu đuổi thẳng cổ giữa bữa tiệc, ông bố 76 tuổi chỉ gật đầu quay đi, hai năm sau cô ta quỳ gối van xin ngay hành lang bệnh viện….

Bị con dâu đuổi thẳng cổ giữa bữa tiệc, ông bố 76 tuổi chỉ gật đầu quay đi, hai năm sau cô ta quỳ gối van xin ngay hành lang bệnh viện….

 

Tôi tên Cần, bảy mươi sáu tuổi, và câu nói cắt ngang cả bữa tiệc năm ấy tôi nhớ từng chữ: “Con nói thật lòng bố, bố nên về quê mà sống. Trên này không hợp với nếp sống của bố, mà con cũng đỡ áp lực.”

Chiếc ly pha lê vừa vỡ dưới chân tôi, loảng xoảng giữa gian phòng khách sang trọng. Trước mặt ông bà thông gia, Thảo gào lên rằng tôi là thứ ăn bám, ăn hại. Thằng Hùng đứng chết trân, mắt dán xuống sàn, không dám nhìn bố.

Tôi gật đầu. Chỉ một cái gật rất khẽ. Rồi quay vào căn phòng kho không cửa sổ, thu dọn mấy bộ quần áo sờn vai vào chiếc túi vải cũ. Tay tôi run, nhưng tôi cắn môi không cho giọt nước mắt nào rơi. Và tôi không nói một lời nào về thứ mình đang giữ trong ngân hàng.

Chẳng ai ở đó biết, người bị gọi là ăn bám ấy đang đứng tên một khoản tiền đủ mua đứt cả căn hộ này.

Mọi chuyện bắt đầu từ cuộc gọi đầu năm. Thằng Hùng mời tôi lên Hà Nội ở cùng, giọng ngọt ngào lắm. Nhưng ngay sau câu “bố ở dưới đấy không yên tâm” là tiếng the thé của Thảo vọng qua ống nghe: bảo ông ấy ăn mặc cho tươm tất, đừng để đối tác của bố tôi chê cười. Con Mai ở Nam Định dặn riêng tôi: nếu ai bảo bố ký giấy vay mượn, bảo lãnh gì thì tuyệt đối đừng nhận lời. Nó nghe phong thanh cửa hàng của anh nó đang chật vật.

Tôi ở quê trên triền đê sông Đáy, mảnh vườn nhãn lồng, bưởi diễn, hàng cau già soi bóng ao. Bà Mùi mất bảy năm rồi. Sáng nào tôi cũng rót hai chén trà, một cho mình, một đặt bên cạnh cho bà. Tám năm trước tôi bán mảnh đất bên ngoại cho dự án khu công nghiệp, gửi cả vào ngân hàng, định để dành lo hậu sự khỏi phiền con cái. Chỉ có con Mai và ông Hợi, bạn già của tôi, biết chuyện. Trước hôm đi, ông Hợi dặn: “Lên phố thì đừng hé răng chuyện tiền. Lòng dạ con cháu thời nay biết đâu mà lường.”

Tôi cười xòa. Thằng Hùng là máu mủ của tôi mà.

Căn phòng kho ở tầng mười hai chỉ vừa kê một chiếc giường đơn, chất thùng các tông và chiếc xe đạp tập phủ bụi. Cả đêm tôi nằm nghe điều hòa rì rào, còi xe dội ngược từ dưới đường, nhớ tiếng dế ngoài bờ ao. Sáng ra tôi tưới mấy chậu cây ngoài ban công, Thảo gắt: nước ngấm sàn gỗ là hỏng cả sàn tiền triệu. Tôi lau từng vệt nước, không dám đụng đến cây của cô ấy nữa.

Chiếc hộp thiếc cũ, trong đó có đồng hồ quả quýt ngày cưới và tấm ảnh đen trắng của tôi với bà Mùi, bị Thảo ném vào thùng rác ngoài sảnh. “Đồ rỉ sét bám đầy vi khuẩn, lỡ lây sang thằng Bốp.” Chờ cô ấy đi khuất, tôi mới lặng lẽ ra nhặt lại từ đáy thùng, lấy vạt áo lau từng vệt bụi, ôm vào lòng mà nước mắt chảy xuống.

Chuyện đau nhất là khi Thảo mời đồng nghiệp đến chơi. Sáng ra cô dặn tôi ở trong phòng cho khỏi vướng. Một cô bạn đi ngang thấy cánh cửa hé, hỏi nhà còn ai ở đây à. Tôi nghe rõ tiếng Thảo ấp úng: “À, phòng kho thôi, thỉnh thoảng có người nhà dưới quê lên chơi ở tạm.”

Người nhà dưới quê lên chơi ở tạm. Mấy chữ ấy cứa vào tôi hơn mọi lời mắng. Tối đó thằng Bốp, cháu đích tôn tám tuổi của tôi, chui vào phòng hỏi: “Ông nội ơi, sao mẹ bảo ông là người dưới quê lên chơi? Ông là ông nội ruột của con cơ mà.” Tôi xoa đầu nó, bảo mẹ nói cho gọn thôi. Nhưng đêm ấy tôi thức trắng.

Thằng bé là nguồn ấm áp duy nhất của tôi. Nó vẽ tranh hai ông cháu ngồi câu cá bên sông tặng tôi, đêm nào cũng lẻn sang nằm nghe ông kể chuyện đồng quê. Có lần nó hỏi, giọng non nớt mà làm tôi sững lại: “Ông ở đây với chúng con, ông có buồn không? Con thấy ông hay ngồi một mình ngoài ban công nhìn xa xăm lắm.”

Rồi Thảo xếp lịch học dày đặc cho con, buổi chiều toán, buổi tối tiếng Anh, cuối tuần học vẽ, để hai ông cháu không còn chỗ gặp nhau.

Giữa lúc ấy tôi để ý thằng Hùng thức khuya ngoài ban công, bấm điện thoại, mặt đăm chiêu. Có đêm tôi nghe nó van nài ai đó: “Xin cho anh thêm một tuần, anh sẽ gom đủ tiền.” Linh tính người cha mách bảo con tôi đang lún sâu. Tôi lặng lẽ ra ngân hàng rút một khoản, bỏ vào phong bì đưa cho nó, dặn đừng nói với Thảo. Nó ôm tôi khóc, cái ôm đầu tiên kể từ ngày tôi lên Hà Nội. Nhưng Thảo thì bắt đầu nhìn tôi dò xét. Có lần cô cầm cuốn sổ tiết kiệm đã tất toán của tôi lên xăm soi, hỏi: “Bố cũng có sổ tiết kiệm cơ à?” Tôi nói đó chỉ là cái vỏ cũ giữ làm kỷ niệm với bà nhà. Ánh mắt cô vẫn ánh lên tia ngờ vực.

Rồi đến bữa tiệc tân gia nhà ông Thịnh, bố đẻ Thảo, ở khách sạn năm sao. Cô dẫn cả nhà đi mua đồ, riêng tôi bị nhặt bừa bộ com lê rẻ nhất, rộng thùng thình. Tôi bị xếp ngồi góc bàn xa tít với mấy người họ hàng xa. Ông Thịnh ghé qua chào một câu khách sáo rồi quay đi. Chiếc ly pha lê tuột khỏi bàn tay run của tôi, vỡ tan trên nền đá. Thảo lao tới, ghé sát tai tôi gằn giọng đủ để cả bàn nghe: “Chiếc ly đó giá cả triệu đồng đấy, bố biết không?”

Về nhà tôi nằm nhìn ô thông gió, tưởng thế đã là đáy. Ba ngày sau, vợ chồng ông Thịnh ghé chơi. Tôi bước ra chào, trượt chân trên tấm thảm, quờ tay làm rơi chiếc bình sứ ông bà mua tặng. Và Thảo nổ tung: “Từ ngày bố bước chân lên cái nhà này thì cái gì cũng hỏng, cái gì cũng vỡ! Bố chẳng khác nào thứ của nợ ăn bám, ngồi không ăn hại!”

Ông Thịnh ngồi sượng sùng. Thằng Bốp khóc thét, vùi vào lòng bà ngoại. Thằng Hùng quát vợ một câu rồi lại im.

Tôi nói bình tĩnh đến lạ: “Được rồi, bố hiểu cả rồi, bố sẽ về quê.”

Sáng sớm hôm sau, thằng Bốp đứng nép ở góc hành lang, đôi mắt đỏ hoe, lao vào ôm hông tôi: “Ông nội đừng bỏ đi mà ông.” Tôi hôn lên trán nó lần cuối rồi gỡ đôi tay bé xíu ra, đi thẳng, không dám ngoái đầu.

 

Tôi về làng, bà Thơm chạy ra đầu ngõ, tối mang sang bát canh chua cá trôi. Tôi dọn nhà, nhổ cỏ, tưới lại mấy chậu cây khô héo, thắp hương cho bà Mùi, thì thầm: “Tôi về nhà rồi đây.” Hai năm ấy tôi sống bình yên theo cách của mình. Và khi gặp những mảnh đời khốn khó, tôi lặng lẽ làm điều đã hứa với ông Hợi: nhờ ông thuê thợ xây cây cầu bê tông qua mương nội đồng cho lũ trẻ đến trường, lập quỹ khuyến học, lợp lại mái nhà cho bác thương binh Thao, tất cả đều ẩn danh. Cả làng đồn có nhà hảo tâm phương xa gửi tiền về.

Thằng Hùng vẫn gọi điện, giọng áy náy. Tôi chưa bao giờ nhắc chuyện cũ. Tôi chọn tha thứ, dù vết thương ấy đêm nào cũng nhức nhối ven bờ sông.

Rồi một tối gần hai năm sau, điện thoại reo dồn dập. Giọng thằng Hùng lạc đi: “Bố ơi, cứu con với!………

……………………………………………

Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên..

👇👇👇

Thằng Bốp sốt cao co giật, viêm màng não, phải mổ gấp. Bệnh viện đòi nộp tạm ứng mà con cạn sạch tiền rồi. Cửa hàng vỡ nợ, thằng Thảo… con Thảo đã chạy sang quỳ lạy ông Thịnh xin hai trăm triệu, ông ấy bảo tiền thương trường không phải lá đa, cháu ngoại thì nhà nội tự gánh.”

Tôi không đắn đo một giây: “Con bình tĩnh. Cứ bảo bác sĩ mổ ngay. Tiền để bố lo.”

Cả đêm tôi thức, sáng ra nhờ ông Hợi lo thủ tục ngân hàng, bắt chuyến xe lên Hà Nội. Nhưng khi tôi ôm bọc tiền dày cộm trước ngực thì điện thoại lại reo. Thằng bé chuyển hôn mê sâu, bệnh viện ra tối hậu thư: trước mười tám giờ không nộp đủ, họ không thể mổ. Kim đồng hồ chỉ mười bảy giờ mười lăm. Xe khách kẹt cứng ở cửa ngõ Hà Đông vì tai nạn. Tôi, một ông già bảy mươi sáu tuổi, đạp cửa nhảy xuống, vẫy một người lái xe ôm, gào lên trong mưa phùn: “Chú phóng hết tốc lực, cháu nội tôi đang chờ tiền mổ!”

Mười bảy giờ năm mươi, tôi lao lên hành lang tầng ba, ướt sũng, hai chân run lẩy bẩy. Thằng Hùng gục đầu trên ghế sắt, mắt thâm quầng. Thảo ngồi nép bên cạnh, mặt xám ngắt, hai bàn tay siết vào nhau đến trắng bệch. Thấy tôi, cả hai sững sờ.

Thảo quỳ sụp xuống nền đá hoa cương, ôm chặt lấy chân tôi: “Bố ơi, con xin lỗi bố. Con biết con chẳng còn tư cách mở miệng. Nhưng con lạy bố, cứu cháu Bốp giúp chúng con!”

Tôi khom lưng đỡ cô đứng dậy, đặt bọc tiền vào tay thằng Hùng. Nó nhìn con số trên giấy tờ rút tiền mà không tin nổi mắt mình: “Bố lấy đâu ra nhiều thế này?” Thảo thì run rẩy: “Suốt hai tháng bố ở với chúng con, bố có tiền mà không hé răng nửa lời, để mặc chúng con đối xử với bố như thế sao?”

Chưa kịp trả lời thì cánh cửa phòng mổ bật mở. Cả ba chúng tôi quay phắt lại. Bác sĩ tháo khẩu trang, gương mặt mệt mỏi nhưng nhẹ nhõm: ca mổ thành công, cháu đã qua cơn nguy kịch nhất. Thảo òa khóc ôm lấy chồng. Hai đầu gối già của tôi run lên, muốn khuỵu xuống.

Khi lắng xuống, tôi kể hết sự thật: mảnh đất bên ngoại, khoản tiết kiệm, chiếc phong bì ngày trước. Tôi nói: “Bố không giấu để thử lòng các con. Bố chỉ tâm niệm rằng lòng hiếu thảo phải đến từ cái tâm, không thể dựng trên đồng tiền.”

Đúng lúc ấy, điện thoại thằng Hùng reo. Người bạn dưới quê báo tin cả làng vừa vỡ lẽ: cụ Ba Cần chính là người âm thầm bỏ tiền xây cầu, lập quỹ khuyến học, lợp nhà cho bác Thao. Anh thợ xây đã buột miệng trong một bữa rượu. Thằng Hùng ngước nhìn tôi, nghẹn lại. Thảo úp mặt khóc, vai rung lên từng tiếng nấc.

Gần nửa đêm, khi thằng Hùng ngủ gục trên băng ghế, Thảo rón rén ngồi cạnh tôi. Cô kể về người cha khắt khe suốt tuổi thơ, về nỗi ám ảnh phải luôn hoàn hảo trước mặt thiên hạ, về việc mình đã vô thức lặp lại vết thương ấy lên người khác. “Con xin lỗi bố, thật lòng.” Lần đầu tiên sau gần hai năm, tôi nghe một lời tạ lỗi không phải vì sợ mất viện phí. Tôi nắm bàn tay lạnh ngắt của cô: “Bố tha thứ cho con.”

Thằng Bốp hồi phục dần. Tôi thuê phòng trọ gần cổng bệnh viện, mỗi sáng nấu cặp lồng cháo mang vào, ngồi bón từng thìa, kể chuyện cổ tích. Về cửa hàng của thằng Hùng, tôi chỉ đỡ phần nợ cấp bách để giữ mái nhà, còn lại bắt nó tự đứng dậy. Nó thu hẹp mặt bằng, ngày trông hàng, tối đi chở hàng thuê.

Ngày thằng Bốp xuất viện, Thảo đã dọn lại căn phòng kho thành gian phòng nhỏ có cửa sổ đón nắng, giường gỗ êm, rèm cửa trang nhã. “Bố ơi, đây là phòng riêng của bố mỗi khi bố lên chơi.” Tối ấy cô nấu bát canh chua học trên mạng. Hơi lệch vị, nhưng trong đó có cả tấm lòng.

Giáp Tết năm sau, chiếc ô tô dừng trước cổng tre nhà tôi. Bước xuống không chỉ có vợ chồng thằng Hùng và thằng Bốp, mà cả ông Thịnh và bà Nhã. Thằng bé chạy ùa vào ôm tôi, cao lớn, khỏe mạnh, chẳng còn dấu vết cơn bạo bệnh. Ông Thịnh cúi đầu xin lỗi vì hai năm trước đã im lặng, để con gái xúc phạm tôi. Tôi xua tay mời họ vào uống chén trà mạn, hái cho ông bà mấy quả bưởi diễn ngọt sắc.

Cuối buổi chiều, họ ra về. Chiếc xe khuất sau hàng tre. Tôi đứng ở cổng rất lâu, nghe gió heo may lùa qua dậu cau. Trên bàn thờ, bức tranh hai ông cháu câu cá đã sờn màu nằm cạnh di ảnh bà Mùi. Tôi rót hai chén trà, như mọi sớm mai, đặt một chén bên cạnh. Chén ấy vẫn nguội dần, và tôi vẫn ngồi đó, một mình, nhìn nắng cuối ngày trườn qua bậc thềm.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!