Cô Gái Quê Đi Xin Việc Bị Chê Quê Mùa, Ba Ngày Sau Cô Là Người Ký Quyết Định Cho Cả Phòng….
Tôi tên Hạnh, hai mươi tám tuổi, người Quảng Trị. Đêm trước ngày phỏng vấn, tôi ngồi trên chuyến xe khách giường nằm hơn mười bốn tiếng, ôm khư khư chiếc phong bì nâu như ôm một đứa trẻ. Trong đó là bản đề án dày bốn mươi trang, từng con số tôi tự tay đi đo, đi đếm, rồi ngồi gõ từng đêm bằng chiếc máy tính cũ của hợp tác xã
Mẹ tôi ủi chiếc áo sơ mi trắng từ bốn giờ sáng, bằng cái bàn là cũ nặng trịch, ủi đi ủi lại cái cổ áo ba lần. Bà dặn: “Con cứ nói thật, nói chậm, người ta sẽ nghe.” Tôi gật đầu, không dám kể với mẹ là tim mình đang đập như trống.
Tôi là giám đốc một hợp tác xã nông sản nhỏ, với một trăm hai mươi hộ dân. Hai năm nay, chúng tôi cung cấp nguyên liệu cho Thái Hòa Foods, một công ty chế biến xuất khẩu có tòa nhà kính mười tám tầng ở Sài Gòn. Nhưng nửa năm gần đây, đơn hàng của bà con cứ nhỏ dần, giá bị ép dần. Tôi lần theo từng chuyến hàng và nhận ra một điều đáng sợ: nguyên liệu sạch của chúng tôi bị trộn lẫn với hàng từ nơi khác ngay trong kho của họ. Sớm muộn gì, lô hàng xuất đi cũng sẽ gặp chuyện.
Tôi viết hết những điều ấy thành đề án và gửi thẳng cho chủ tịch Lương Văn Tâm. Vài ngày sau, tôi nhận được thư hồi âm ngắn gọn: mời tôi vào công ty lúc chín giờ sáng thứ Hai. Bản in đề án tôi mang theo, trên bìa phong bì có dòng chữ viết tay bằng bút bi xanh của chính ông: “Gặp H. – 9h thứ Hai. Tâm.”
Nhưng sáng hôm đó, người ngồi chờ tôi không phải ông.
Cô lễ tân liếc xuống đôi dép quai hậu và chiếc túi vải của tôi rất lâu, rồi mới chỉ tay lên phòng Nhân sự. Tôi đứng chờ ngoài hành lang gần bốn mươi phút. Bên trong, tiếng cười nói rôm rả.
Trưởng phòng Nhân sự là chị Diệp, khoảng bốn mươi tuổi, tóc uốn bóng loáng, móng tay sơn đỏ, mùi nước hoa ngọt gắt lan ra tận cửa. Hai nhân viên ngồi hai bên chị là Quân và Vy, vừa nhìn tôi vừa cắn môi nhịn cười.
Chị Diệp lật tờ lý lịch của tôi, mày nhíu lại.
“Hạnh… Quảng Trị à? Hợp tác xã?” Chị kéo dài giọng. “Tức là làm nông.”
“Dạ, em quản lý chuỗi cung ứng nông sản cho bà con ạ,” tôi đáp, cố nói thật chậm như lời mẹ dặn.
Tôi vừa dứt câu, Quân đã nhại lại giọng tôi, kéo dài chữ “dạ” đến méo mó. Vy phì cười. Chị Diệp không ngăn, còn khẽ nhếch môi.
“Chị Hạnh này,” chị Diệp đặt tờ giấy xuống, “công ty chúng tôi là doanh nghiệp xuất khẩu, hình ảnh nhân sự rất quan trọng. Chị nhìn lại mình đi. Cái áo này, đôi dép này, rồi cái giọng này nữa. Khách hàng nước ngoài nghe sao nổi?”
“Dạ, em đi xe đêm, chưa kịp thay giày…”
“Ở đây không có chỗ cho sự quê mùa,” chị ngắt lời tôi. “Thành phố này không phải chỗ để chị thử vận may. Chị về quê trồng rau tiếp đi, hợp hơn.”
Mặt tôi nóng ran. Cả căn phòng im lặng chờ xem tôi làm gì. Tôi hít một hơi thật sâu, nhớ đến một trăm hai mươi hộ dân đang chờ vụ thu hoạch tới, nhớ đến cái cổ áo mẹ đã ủi ba lần. Tôi đặt phong bì lên bàn.
“Em xin để lại đề án này. Chị không cần thì chị cứ bỏ đi cũng được. Nhưng em xin chị đọc trang cuối cùng. Em ghi sẵn ở đó số lô hàng sẽ gặp vấn đề, nếu kho không thay đổi cách nhập nguyên liệu.”
Chị Diệp lướt mắt qua bìa phong bì, qua cả dòng chữ viết tay bằng bút xanh, rồi nhún vai: “Tâm nào cơ? Tên thì chung chung.”
Rồi chị cầm cả phong bì lên, bỏ thẳng vào sọt rác dưới chân bàn, ngay trước mặt tôi.
“Xong. Chị về đi.”
Tiếng giấy rơi xuống đáy sọt nghe nhẹ tênh. Tôi cúi đầu chào, đi ra cửa. Sau lưng, Quân còn nói với theo một câu rất to: “Lần sau nhớ đi giày nhé, cô nông dân!”
Tôi ra ngồi ở bậc thềm trước tòa nhà, ăn nửa ổ bánh mì mẹ gói từ quê, nắng Sài Gòn đổ xuống đầu rát bỏng. Mẹ gọi điện hỏi thế nào. Tôi nói: “Con ổn mẹ ạ. Con sẽ về sớm.”
Tôi không khóc. Chỉ thấy tức, thấy tủi, thấy mình bé xíu dưới tòa nhà kính cao ngất ấy.
Tôi đâu biết rằng, chiều hôm đó, có một người đã lặng lẽ cúi xuống, nhặt chiếc phong bì từ sọt rác lên.
Ba ngày sau, tin dữ ập đến Thái Hòa. Lô hàng bốn mươi tấn vừa xuất sang Nhật bị đối tác trả về vì không đạt tiêu chuẩn. Cả công ty rúng động. Đúng lúc tôi đang thu dọn đồ định bắt xe về quê, điện thoại reo. Là thư ký của chủ tịch.
“Cô Hạnh phải không ạ? Chủ tịch xin lỗi vì hôm thứ Hai ông kẹt cuộc họp với ngân hàng. Ông mời cô quay lại công ty lúc tám giờ sáng mai, có buổi họp khẩn toàn công ty.”
Sáng hôm sau, tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng mẹ ủi, đi đôi giày vải mới mua. Tôi bước vào phòng họp trên tầng mười tám.
Hơn bốn mươi người đã ngồi kín ghế. Chị Diệp ngồi ngay hàng đầu, Quân và Vy ngồi phía sau. Vừa thấy tôi, chị Diệp bật cười khẩy, nghiêng sang người bên cạnh nói đủ to cho cả phòng nghe:
“Ơ kìa, cô gái quê hôm trước. Chắc đi lạc vào phòng họp rồi.”
Tiếng cười rúc rích lan khắp phòng. Chị Diệp đứng dậy, giọng ra vẻ lịch sự mà lạnh tanh: “Chị ơi, đây là họp nội bộ, chị vui lòng ra ngoài giúp.”
Tôi đứng yên, không nói gì.
Đúng lúc đó cánh cửa phòng họp mở ra. Chủ tịch Lương Văn Tâm bước vào, tóc bạc trắng, dáng người nhỏ nhưng bước đi rất vững. Ông không đi về ghế chủ tọa. Ông đi thẳng đến chỗ tôi, đưa cả hai tay ra bắt tay tôi, giữ rất lâu.
Cả phòng họp im bặt. Nụ cười trên mặt chị Diệp đông cứng lại.
“Thưa anh,” chị Diệp lắp bắp, “cô này…”
Chủ tịch không nhìn chị. Ông quay sang cả phòng họp, giọng ông vang lên rõ từng chữ:………………………..
“Đây là cô Trần Thị Hạnh. Từ hôm nay, cô là Giám đốc Khối Vận hành của Thái Hòa, phụ trách thu mua, kho vận và cả Nhân sự. Mọi quyết định của các phòng ban đó, kể cả quyết định dành cho phòng Nhân sự, đều phải qua chữ ký của cô ấy.”
Căn phòng như rơi vào khoảng lặng chết người. Chị Diệp tái mét, hai tay bám vào thành ghế. Quân và Vy cúi gằm mặt, không dám ngẩng lên.
Chủ tịch Tâm bình thản nói tiếp: “Ba tuần trước, tôi nhận được bản đề án của cô Hạnh. Cô ấy chỉ ra kho của chúng ta đang trộn nguyên liệu từ nhiều nguồn, và cảnh báo trước một lô hàng sẽ bị trả về. Trang cuối có ghi số lô. Chính là lô hàng bốn mươi tấn vừa bị Nhật gửi trả.”
Ông ngừng lại, nhìn khắp phòng. “Thứ Hai tuần trước, tôi hẹn cô ấy lên gặp. Tôi kẹt họp ngân hàng nên nhờ phòng Nhân sự tiếp trước. Chiều hôm đó, người đầu tiên đọc hết bản đề án này không phải trưởng phòng, cũng không phải ai trong phòng họp này. Mà là bác Sáu, người lao công của công ty. Bác nhặt nó từ sọt rác, nhìn thấy chữ viết tay của tôi trên bìa, và chạy một mạch lên tầng mười tám.”
Ông quay sang chị Diệp. “Chị Diệp, người ném nó vào sọt rác là chị.”
Chị Diệp không nói được lời nào.
Sau buổi họp, tôi vào phòng làm việc mới, một căn phòng nhỏ, cửa sổ nhìn xuống con đường tôi từng ngồi ăn bánh mì. Việc đầu tiên tôi làm không phải là hả hê. Tôi gọi phòng kiểm toán nội bộ và yêu cầu rà soát toàn bộ hồ sơ tuyển dụng ba năm qua.
Kết quả làm tôi lặng người. Trong ba năm, hơn sáu mươi phần trăm hồ sơ từ các tỉnh bị loại ngay từ vòng đầu, không ghi lý do. Có những cô cậu có bằng loại giỏi, kinh nghiệm thực tế, chỉ vì ghi quê ở huyện xa. Trong ghi chú của vòng phỏng vấn, tôi đọc được những dòng chữ làm mình đau lòng: “Giọng nặng.” “Ăn mặc nhà quê.” “Hình ảnh kém.” Tỷ lệ nhân viên nghỉ việc của công ty lại cao gấp đôi mức trung bình ngành, vì những người ở lại cũng bị đối xử bằng chính thước đo đó.
Chiều hôm đó, chị Diệp gõ cửa phòng tôi. Chị không còn mái tóc bóng loáng như mọi ngày, mắt đỏ hoe. Chị đứng ở cửa rất lâu, rồi nói bằng một giọng tôi chưa nghe bao giờ:
“Chị không xin cô tha. Chị chỉ muốn nói một chuyện.”
Chị ngồi xuống, hai tay đan chặt vào nhau.
“Chị sinh ra ở Nghệ An. Hồi mới vào thành phố, chị cũng đi dép, mặc cái áo cũ, nói giọng nặng trịch. Ngày đầu đi xin việc, người ta cười vào mặt chị, bảo chị là con nhà quê. Chị về phòng trọ khóc suốt một đêm. Rồi chị thề sẽ không bao giờ để ai nhìn thấy chị như thế nữa. Chị học nói giọng Sài Gòn, học ăn mặc, học cách giấu quê quán. Mười lăm năm rồi, chị không dám về nhà vào dịp lễ vì sợ đồng nghiệp biết.”
Chị ngẩng lên nhìn tôi. “Hôm thứ Hai, khi cô bước vào, chị thấy chính mình của mười lăm năm trước. Chị sợ. Chị sợ đến nỗi chỉ muốn đẩy cô ra khỏi cửa thật nhanh.”
Tôi im lặng rất lâu. Rồi nói: “Chị Diệp, điều chị làm là sai. Dù lý do là gì, hàng trăm người đã bị chị đóng cửa trước mặt, như chị từng bị người ta đóng cửa.”
Chị gật đầu, nước mắt rơi xuống tay.
Tôi ký những quyết định đầu tiên của mình ngay hôm đó. Chị Diệp bị miễn nhiệm chức trưởng phòng, chuyển sang làm chuyên viên và đi thực tế sáu tháng tại các vùng nguyên liệu. Quân và Vy nhận kỷ luật khiển trách, phải học lại quy tắc ứng xử. Toàn bộ quy trình tuyển dụng được viết lại: không hỏi quê quán, không chấm ngoại hình, mỗi ứng viên đều làm một bài thực hành bằng chính công việc họ sẽ làm. Tôi cũng ký quyết định chuyển bác Sáu sang biên chế chính thức với đầy đủ bảo hiểm, và thưởng nóng cho bác.
Ngày bác Sáu nhận quyết định, bác đứng trước cửa phòng tôi, tay vẫn còn cầm cây chổi, nói lí nhí: “Cô ơi, tôi chỉ nhặt một cái phong bì thôi mà.”
Tôi nắm lấy bàn tay chai sạn của bác. “Bác nhặt lên một cái phong bì, nhưng cũng nhặt lên cả công ty này.”
Sáu tháng sau, một buổi chiều mưa, tôi nhận được cuộc điện thoại từ vùng nguyên liệu ở Gia Lai. Giọng chị Diệp vang lên, khản đặc, xen lẫn tiếng mưa trên mái tôn.
“Cô Hạnh à, hôm nay chị ngồi ăn cơm với bà con. Bà con hỏi chị quê ở đâu. Chị đã nói thật. Chị nói bằng giọng Nghệ của chị, cả bữa cơm bà con cười, còn chị khóc.”
Tôi cười, mắt cay cay. “Giọng Nghệ nghe hay mà chị.”
“Mười lăm năm rồi mới có người nói với chị câu đó,” chị bật cười trong nước mắt.
Hợp đồng với đối tác Nhật được giữ lại sau khi chúng tôi làm lại hoàn toàn chuỗi nguyên liệu, tách kho theo từng nguồn, dán mã truy xuất cho từng lô. Một trăm hai mươi hộ dân của hợp tác xã Đồng Xanh có đơn hàng ổn định cho ba năm.
Mùa xuân năm sau, mẹ tôi lần đầu lên Sài Gòn. Bà đứng trước tòa nhà kính, ngập ngừng nhìn đôi dép của mình, định tháo ra. Tôi nắm tay bà, dắt vào thang máy. Lên đến phòng làm việc, mẹ nhìn chiếc phong bì nâu cũ nằm ngay ngắn trên bàn tôi, góc đã sờn, bìa còn nguyên dòng chữ xanh của chủ tịch.
“Con giữ cái này làm chi?” mẹ hỏi.
“Để con nhớ,” tôi nói. “Nhớ có một ngày con bị người ta bỏ vào sọt rác, và có một người nhặt con lên.”
Mẹ không hiểu hết, chỉ vuốt nhẹ cổ áo tôi, y như hồi bà ủi ba lần buổi sáng hôm ấy.
Tôi nhận ra một điều sau chuyện này. Nhà quê không phải là thứ đáng xấu hổ. Đáng xấu hổ là khi một người đã đi lên, lại đem chính nơi mình từ đó đến ra làm thước đo để chê người khác. Và đôi khi, người ta chê quê mùa lại chính là người sợ nhất cái quê trong mình.





