CҺồпg Lươпg 46 Trιệu, Cắt 43 Trιệu CҺo Mẹ CҺồпg: “Aι Gιữ Cũпg Được, Để Mẹ Vuι” – Tȏι KҺȏпg Cãι, CҺỉ…

CҺồпg Lươпg 46 Trιệu, Cắt 43 Trιệu CҺo Mẹ CҺồпg: “Aι Gιữ Cũпg Được, Để Mẹ Vuι” – Tȏι KҺȏпg Cãι, CҺỉ…

Tôi là Nhật Hạ, ba mươi hai tuổi, làm kiểm soát nội bộ và kiểm toán cho một công ty thương mại. Nghề của tôi là nhìn vào con số để biết người ta đang giấu gì. Tôi quen với chuyện bình tĩnh, quen với việc giữ bằng chứng, quen với việc không tin ngay những câu nghe đầy đạo lý.

Tôi lấy Thanh Bách được ba năm. Chúng tôi sống trong một căn chung cư trả góp ở tầng mười sáu. Nhà không rộng, nhưng đủ cho một gia đình nhỏ nếu hai người biết giữ nhau. Mẹ chồng tôi là bà Hoài, ở quê. Bà không nghèo. Nhà có ao, có vườn, có ít đất cho thuê. Nhưng bà thích quyết mọi chuyện. Bà hay nói: “Nhà có nóc mới yên.” Vấn đề là bà luôn xem mình là cái nóc, còn con dâu chỉ là cái nền.

Mỗi tháng Bách đều gửi tiền về cho mẹ vài triệu. Tôi không ý kiến. Làm con thì phải nghĩ cho cha mẹ. Tôi hiểu điều đó. Tôi vẫn nghĩ như thế cho đến một tối cuối tháng mười, trời mưa và gió quẩn quanh ban công, khi canh chua vừa sôi, cá kho vừa cạn nước, còn tôi đang lúi húi dọn mâm.

Bách đi làm về, mặt tươi lạ thường. Anh đứng ở cửa bếp, cởi cà vạt, rồi báo tin như một người vừa thắng lớn: “Anh được tăng lương. Từ tháng này, lương anh lên bốn mươi sáu triệu.”

Tôi mừng thật. Không phải vì tiền nhiều lên, mà vì tôi nghĩ cuối cùng nhà này cũng đỡ thở gấp hơn. Nhưng niềm vui của tôi chưa kịp thành hình thì Bách nói tiếp, giọng rất tự nhiên: “Anh tính rồi. Từ tháng này anh gửi về cho mẹ bốn mươi ba triệu. Mẹ lớn tuổi rồi, ở quê cần thuốc thang, cần lo này lo kia. Ai giữ cũng vậy thôi.”

Tôi cầm cái muôi đứng yên. Hơi canh bốc lên trước mặt, chua nhẹ. “Anh giữ lại bao nhiêu?”

“Ba triệu. Anh cũng phải có tiền xăng xe, cà phê, tiếp khách.”

Tôi kéo ghế ngồi xuống. “Thế tiền nhà? Tiền ăn? Tiền điện nước? Phí chung cư? Trả góp?”

Bách khoát tay, như chuyện đó quá đơn giản. “Em lo được mà. Lương em tốt hơn anh. Vợ chồng ai giữ cũng như nhau.”

Câu nói đó rơi xuống bàn ăn, nghe nhẹ mà lạnh. Tôi không cãi ngay. Tôi chỉ nhìn anh và đáp: “Được. Anh quyết vậy thì em tôn trọng.”

Từ hôm sau, tôi ngừng làm những việc mà trước đó người ta mặc định là bổn phận của vợ. Tôi không dậy sớm nấu đồ ăn sáng. Không giặt đồ hộ. Không nhắc anh đóng tiền điện, tiền mạng, phí xe. Tôi đi làm, ăn ngoài, lo phần của mình. Vài hôm đầu, Bách còn tưởng tôi dỗi. Đến khi anh liên tục phải lục tủ tìm mì gói, ăn bánh mì nguội, và một sáng đi làm muộn vì không có ai chuẩn bị gì sẵn, anh mới nhắn: “Em làm gì vậy? Vợ chồng mà cư xử như người dưng à?”

Tôi trả lời rất ngắn: “Anh nói ai giữ cũng như nhau mà. Em đang để anh thấy thế nào là như nhau.”

Bách gọi lại ngay, giọng gắt: “Em làm quá.”

Tôi đáp: “Em không làm quá. Em chỉ đang ngừng gánh phần của anh thôi.”

Từ đó trong nhà bắt đầu có một thứ vô hình mà ai cũng cảm thấy được: kỷ luật. Bách vẫn đi về, vẫn là chồng tôi trên giấy tờ, nhưng giữa chúng tôi có một khoảng trống lạnh. Không cãi nhau ầm ĩ, không đập phá. Chỉ là ai cũng nói ít, ai cũng giữ phần mình.

Đúng lúc đó tôi phát hiện mình có thai.

Tôi không kể với ai ngoài bác sĩ và chính mình trong vài ngày đầu. Tôi cần chắc. Khi que hiện hai vạch đỏ rõ mồn một lần thứ hai, tôi ngồi rất lâu trong phòng tắm, nghe tiếng nước nhỏ xuống sàn, bụng chưa có gì mà lòng đã nặng. Tôi nói với Bách vào một buổi tối, khi anh đang xem điện thoại.

Anh ngẩng lên, hơi khựng vài giây rồi cười: “Ừ, thế cũng tốt.”

Chỉ thế thôi. Không ôm, không hỏi tôi mệt không, không nhìn tôi lâu hơn một chút. Tôi không bất ngờ. Có những thứ hỏng từ trước khi người ta nhận ra.

Tôi bắt đầu chăm thai như quản trị một dự án có rủi ro cao. Ăn vừa đủ, ngủ đúng giờ, đi khám định kỳ, ghi lại từng chỉ số. Bách nhìn tôi mà bảo: “Em làm gì cũng thành quy trình. Đến có bầu cũng quy trình.”

Tôi đáp: “Quy trình để giảm rủi ro. Con trong bụng em không có quyền trả giá cho sự tùy hứng của người lớn.”

Anh im. Cái im đó càng ngày càng dày lên.

Rồi bà Hoài gọi. Bà không hỏi thăm gì nhiều, chỉ đi thẳng vào việc: “Tháng này chuyển tiền chưa? Mẹ đang cần thêm hai mươi bốn triệu.”

Tôi hỏi lại: “Mẹ cần gấp để làm gì ạ?”

Bà đổi giọng ngay: “Con hỏi nhiều làm gì? Ở quê có việc của quê. Con làm dâu thì đừng kiểu thành phố, cái gì cũng tính.”

Tôi giữ giọng nhỏ nhưng rõ: “Con đang mang thai. Con cần giữ sức. Mẹ cần thì nói với anh Bách.”

Bà cười nhạt trong điện thoại: “Có bầu thì ai chẳng có. Đừng nghĩ mang thai là muốn làm gì thì làm.”

Tôi tắt máy trước khi bà nói thêm. Đôi khi cắt đúng lúc cũng là tự cứu mình.

Tối đó Bách về nhà với vẻ mặt khó chịu. “Mẹ anh gọi cho em hả? Em nói gì mà mẹ anh bực?”

Tôi nhìn anh. “Anh muốn em nói kiểu gì? Mềm để mọi người tiếp tục rút cho đến khi nhà này không còn gì à?”

Bách đáp ngay: “Em đừng có mang cách kiểm toán vào nhà.”

Tôi nói: “Trong nhà mà không nhìn số, không nhìn rủi ro, thì đến lúc sập ai chịu?”

Từ hôm đó tôi không còn hy vọng vào việc anh sẽ hiểu. Tôi chỉ tập trung sinh con an toàn, giữ sức khỏe, và để dành những gì có thể.

Minh Mộc ra đời vào một ngày mưa sáng, bé tí tẹo, da hồng, tay nắm lại như đang ôm thứ gì rất quan trọng. Tôi sinh mổ. Những ngày đầu đau đến mức cười cũng đau. Bà Hoài lên chăm.

Bà mang theo cả một nếp sống cũ vào căn hộ của chúng tôi. Giờ nào tôi phải ăn. Giờ nào phải uống nước lá. Giờ nào phải nằm, phải ngồi, phải quấn con ra sao, bế con kiểu gì. Tôi vừa mệt vừa đau vừa nghe chỉ đạo đến ong cả đầu.

Đêm đầu tiên Minh Mộc khóc nhiều, tôi bế con đi đi lại lại trong phòng khách. Con bé đỏ mặt, tay quờ quạng tìm hơi mẹ. Bà Hoài từ trong phòng đi ra, nhăn mặt: “Khóc thì cứ để nó khóc. Ẵm quen tay sau này khổ.”

Tôi ôm con chặt hơn. “Con còn bé quá mẹ.”

Bà hất cằm. “Bé rồi sao? Phải luyện từ nhỏ.”

Tôi không đáp. Tôi biết mình mà mở miệng thêm là sẽ bật khóc. Mà khóc trước mặt bà chỉ làm bà càng chắc rằng tôi yếu.

Một chiều, Minh Mộc bú ít hẳn, người nóng ran, mặt đỏ, thở khò khè. Tôi đo nhiệt độ: gần ba mươi chín. Tôi đứng dậy, quấn khăn cho con: “Mẹ, con đưa cháu đi viện.”

Bà Hoài bước ra chắn cửa ngay lập tức. “Không đi đâu hết. Trẻ con sốt tí là chuyện bình thường.”

Tôi giữ con sát ngực. “Con đưa đi. Mẹ tránh ra.”

Bà vẫn đứng đó, còn với tay giữ tôi lại. “Mày bày vẽ. Đêm hôm đi viện cho người ta cười.”

Lúc ấy tôi không còn thấy bà là mẹ chồng hay người lớn gì nữa. Tôi chỉ thấy trước mặt mình là một chướng ngại đứng giữa con tôi và bác sĩ. Tôi nghiêng người, dùng vai đẩy nhẹ nhưng dứt khoát để mở đường. Bà lùi lại, kêu lên: “Trời ơi, nó đẩy tôi!”

Tôi không quay đầu. Tôi lao ra hành lang, bấm thang máy, tay run nhưng đầu óc rất tỉnh. Xuống sảnh, trời lất phất mưa. Tôi ôm con chờ taxi, miệng chỉ biết thì thầm: “Con ơi, cố lên.”

Đến viện, bác sĩ nhìn Minh Mộc là gọi vào cấp cứu ngay. Chưa đầy mười phút sau……………………………………., một bác sĩ trẻ bước ra, giọng gấp: “Bé có dấu hiệu viêm đường hô hấp dưới, nghi viêm phổi. Chúng tôi cho thở oxy và làm xét nghiệm ngay.”

Tôi ký giấy cam kết mà tay run bần bật. Lúc ấy tôi mới thấy sợ thật. Không phải sợ mình bị trách, mà sợ chỉ cần chậm thêm một chút, Minh Mộc sẽ khó thở hơn, nặng hơn.

Gần nửa đêm, Bách đến. Anh đi vội, áo nhàu, mặt nóng, còn phảng phất mùi bia. Câu đầu tiên anh nói không phải “Con sao rồi?” mà là: “Em làm gì mà bế con đi giữa đêm? Mẹ anh gọi nói em đẩy mẹ.”

Tôi quay sang nhìn anh. Nhìn rất lâu. “Anh thấy con anh nằm trong kia không?”

Bách liếc về phòng cấp cứu. “Thì… nhưng em cũng đâu cần làm lớn vậy.”

Tôi hỏi lại, từng chữ: “Con sốt gần ba mươi chín, thở rút. Tôi không đưa đi viện thì tôi ôm nó ra đây để xin phép anh à?”

Anh cứng họng.

Đúng lúc đó y tá đẩy xe đi qua. Minh Mộc nằm nhỏ xíu, quanh mặt là dây oxy. Trong khoảnh khắc ấy, tôi không còn nhìn Bách như chồng nữa. Tôi nhìn anh như một người đã tự đặt mình ra ngoài quyết định sống còn của con.

Tôi nói rất chậm: “Từ giờ chuyện của con, tôi quyết. Anh muốn làm bố thì đi cùng tôi. Còn nếu muốn tiếp tục làm con của mẹ anh, anh đứng sang một bên.”

Bách đứng im.

Minh Mộc nằm viện gần một tuần. Tôi sống ở đó bằng cà phê nguội, cháo trắng và một thứ ý chí rất lạ của người mẹ nhìn con thở từng nhịp. Tôi không khóc nhiều. Tôi chỉ ngồi nghe bác sĩ dặn từng điều rồi ghi lại hết.

Khi con ổn hơn, bác sĩ cho về và dặn phải tuyệt đối tránh khói thuốc, tránh gió lùa, không tự ý đắp lá, xông nóng hay làm theo kinh nghiệm truyền miệng.

Tôi không về chung cư nữa. Tôi bế Minh Mộc về nhà bố mẹ ruột. Mẹ tôi nấu cháo cá lóc cho tôi ăn. Bố tôi chỉ nói một câu: “Con cứ nghỉ, chuyện khác tính sau.”

Tôi biết mình đã đi đến điểm không thể quay lại.

Hai ngày sau, công ty của Bách bắt đầu rà soát lại công việc. Đúng như tôi dự đoán, những khoản anh từng “xoay”, những chứng từ từng “linh động”, những khoản đi lại không rõ ràng bắt đầu bị soi. Đồng nghiệp tránh né. Đối tác dè chừng. Sĩ diện của anh không che nổi bảng sao kê và email.

Bách đến nhà bố mẹ tôi, đứng ngoài cổng gọi. Anh gầy đi trông thấy. “Hạ, anh biết sai rồi. Cho anh gặp con.”

Tôi bế Minh Mộc, đứng phía trong cánh cổng sắt. “Anh muốn gặp con thì làm đúng trước. Tôi không để con tôi thêm một lần nằm giữa rủi ro.”

Ít lâu sau, tôi gặp luật sư Hoàng Minh. Tôi đưa toàn bộ hồ sơ: sao kê, chứng từ nợ, tin nhắn, hồ sơ nhập viện của Minh Mộc, đề nghị trích xuất camera hành lang và camera sảnh đêm hôm đó. Tôi không kể lể. Tôi chỉ nói: “Tôi cần quyền nuôi con. Và tôi cần sự an toàn tuyệt đối cho con.”

Buổi hòa giải đầu tiên diễn ra trong không khí nặng nề. Bách đi cùng bà Hoài. Bà vẫn cố giữ giọng của người lớn: “Vợ chồng có con rồi thì đóng cửa bảo nhau. Làm lớn chuyện xấu mặt cả nhà.”

Tôi nhìn thẳng vào bà. “Nếu hôm đó tôi nghe mẹ, Minh Mộc có chắc vẫn ngồi đây không?”

Bà im.

Khi đoạn camera bà chắn cửa hiện lên, cả phòng lặng đi. Sự thật lúc nào cũng có sức nặng riêng. Nó không cần ai diễn giải thêm.

Cuối cùng, thỏa thuận được ký. Tôi là người nuôi Minh Mộc. Bách được thăm con theo lịch, nhưng không được tự ý đưa con về quê hay giao con cho bà Hoài khi không có sự đồng ý của tôi. Các khoản nợ cá nhân là trách nhiệm của anh. Phần tài sản chung được chia theo hướng có lợi cho mẹ con tôi vì chuỗi hành vi gây nguy cơ cho trẻ sơ sinh và những vấn đề tài chính đã rõ.

Bách ký mà tay run. Bà Hoài ngồi sụp xuống ghế, mặt xám đi. Lúc ấy tôi mới hiểu: điều họ sợ nhất không phải mất mặt, mà là mất quyền kiểm soát.

Vài tháng sau, khi Minh Mộc cứng cáp hơn, tôi trở lại làm việc. Nhưng không quay lại kiểu cũ. Tôi gom vốn, mở một văn phòng tư vấn kiểm soát nội bộ nhỏ, nhận khách vừa và nhỏ. Tôi làm đúng việc mình giỏi nhất: giúp người ta nhìn ra rủi ro trước khi nó nuốt họ.

Tôi đặt tên văn phòng là “Bình An”.

Một buổi chiều đưa Minh Mộc đi tiêm về, tôi ghé chợ mua mớ rau ngót, ít cá thu, vài quả cam. Đi ngang quầy rau, tôi thoáng thấy bà Hoài đang đứng lựa đống rau héo, lưng còng hơn trước. Bà ngẩng lên thấy tôi, ánh mắt vội tránh đi.

Tôi không bước lại. Cũng không nói gì.

Tôi chỉ bế Minh Mộc chặt hơn và đi tiếp.

Trong lòng tôi không còn giận nữa. Chỉ còn sự rõ ràng: ai gieo thói coi thường, sớm muộn cũng gặt lấy cô đơn.

Tối đó, sau khi con ngủ, tôi ngồi trong căn phòng nhỏ, nghe máy lọc không khí chạy đều, rồi mở sổ ra viết một dòng: “Từ hôm nay, mình sống bằng ranh giới, không sống bằng lời hứa.”

Tôi hiểu ra một điều rất muộn nhưng rất đắt: phụ nữ, nhất là khi đã làm mẹ, phải nắm chắc kinh tế, phải giữ bằng chứng khi cần, và đừng để bất kỳ ai nhân danh tình nghĩa mà lấy đi quyền được an toàn của mình và con.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!