Ra Mộ Vợ, KҺȏпg Ngờ Tộι Ác KιпҺ Hoàпg Lạι Lộ Ra Từ Cȃu Nóι Của Cȏ Bé NҺổ Cỏ
Tôi vẫn nhớ rõ cái đêm mưa gió ấy, khi tiếng điện thoại reo lên giữa cuộc họp, giọng đàn ông bên kia hoảng loạn: “Anh Lộc! Du thuyền cháy rồi! Chị Nguyên… chị ấy vẫn còn trên tàu!”
Cây bút rơi khỏi tay tôi, ghế sau lưng đổ kềnh. Cả phòng họp chưa kịp hiểu chuyện gì thì tôi đã lao ra ngoài, xe lao vút qua những con đường ướt át về phía bến cảng. Mùi khét lẹt, lửa đỏ rực một góc vịnh, con du thuyền như bó đuốc khổng lồ giữa biển đêm. Tôi gào lên đòi xuống tàu, nhưng người ta chặn lại. Vợ tôi, Thảo Nguyên, người đàn bà dịu dàng nhất đời tôi, đang ở đó. Chỉ vài giờ trước cô còn chỉnh cà vạt cho tôi, dặn tôi nhớ ăn trước khi họp. Giờ thì chỉ còn khói đen và tiếng sóng gầm.
Ba năm sau, tôi vẫn đứng trước ngôi mộ ấy, tay cầm bó huệ trắng, lòng trống rỗng.
Nhưng lúc đó tôi không hề biết rằng, sự thật phía sau hoàn toàn khác…
Tôi là Trần Vĩnh Lộc, 38 tuổi, chủ một công ty vận tải đường thủy lớn ở Sài Gòn. Ngoài đời ai cũng sợ tôi – cái dáng cao lớn, ít cười, đôi mắt lúc nào cũng lạnh tanh. Nhưng về nhà, tôi chỉ là người chồng mong mỗi bữa cơm nóng vợ nấu. Thảo Nguyên kém tôi bốn tuổi, không đẹp chói lòa kiểu người ta hay khoe, nhưng càng nhìn càng thấy ấm lòng. Cô buộc tóc gọn gàng, mặc đồ kín đáo, đi đứng nhẹ nhàng. Nhà có giúp việc, tài xế, quản gia, nhưng Nguyên chưa bao giờ làm bà chủ. Cô nhớ từng bệnh tình của mọi người trong nhà: chú Tín đau dạ dày không ăn cay, bác Tài Thành đau lưng phải xoa dầu nóng.
Buổi chiều hôm đó, trời Sài Gòn mưa lất phất. Mùi canh chua cá bông lau bốc lên thơm nức. Nguyên vừa trở miếng cá vừa dặn chị Lan: “Chừa ít ớt cho chú Tín nghe.” Chị Lan cười: “Cô nhớ hết bệnh tình nhà này luôn.” Nguyên chỉ cười nhẹ: “Sống chung một mái, nhớ được gì thì nhớ.” Cô còn lấy cao xoa lưng cho bác Tài, chỉnh từng chén đũa trên mâm cơm, đặt khăn khô và ly nước ấm sẵn chỗ tôi.
7 giờ tối, xe tôi dừng trước sân. Nguyên bưng tô canh ra, mắt dịu lại. Cô bước tới chỉnh cà vạt cho tôi, vuốt nhẹ nếp áo: “Anh lại quên ăn chiều phải không?” Tôi nắm tay cô, khàn khàn: “Cảm ơn em.” Cô cười: “Vợ chồng mà cảm ơn nghe xa lạ quá.” Bữa cơm ấy êm đềm như bao bữa. Tôi ăn miếng cá nạc cô gắp, bỏ hành sang một bên vì biết tôi ghét. Ngoài trời mưa lộp độp, trong nhà mùi cá kho ấm áp.
Gia Bảo – em trai cùng cha khác mẹ – về muộn, vẫn lịch sự như mọi khi. “Anh hai, mai bên kho cần ký hồ sơ.” Nó cười với Nguyên: “Chị hai ăn cơm chưa?” Mọi thứ đúng mực. Nhưng khi Nguyên bưng tô canh ngang qua, tôi vô tình thấy ánh mắt Bảo nhìn theo vợ tôi – vừa ghen vừa cay, vừa nén lại. Nguyên khựng lại nửa giây. Lúc ấy tôi không để ý, chỉ nghĩ mình mệt.
Sáng hôm sau, Nguyên vẫn dậy sớm pha cà phê, rót nước ấm cho tôi. Cô ghé công ty mang chè đậu đen, thấy Bảo trình bày báo cáo lưu loát, được mọi người khen. Về nhà cô ghi vào sổ tay: “Gia Bảo nhìn anh Lộc không phải ánh mắt em yên tâm…” Tôi cười khi cô kể, bảo em nghĩ nhiều. Nhưng trong lòng cô vẫn lấn cấn.
Cuối tuần ấy, tiệc trên du thuyền. Tôi bận họp bảo hiểm đột xuất, Nguyên đi thay. Cô còn dặn chị Lan hâm canh, dặn bác Tài lái xe cẩn thận. Trước khi ra cửa, cô quay lại nhìn tôi lần nữa: “Anh làm xong về sớm nghe.” Tôi gật đầu, lòng thoáng nặng. Không ngờ đó là lần cuối tôi thấy vợ đứng nguyên vẹn trước mặt.
Đêm đó, du thuyền cháy. Người ta tìm được khăn choàng cháy xém, nhẫn cưới, vài thứ nhận dạng là của cô. Tang lễ diễn ra gấp. Gia Bảo lo hết, giọng buồn vừa phải: “Anh hai để em lo.” Quan tài đóng kín, không ai nhìn mặt lần cuối. Tôi quỳ trước di ảnh, lưng run bần bật nhưng không khóc thành tiếng. Ba năm trời, chiều nào tôi cũng ra mộ, kể chuyện cây khế ra trái, chị Lan nấu canh chua không đúng vị, bác Tài bớt đau lưng. Nỗi đau không nguôi, chỉ học cách nằm im sâu hơn.
Cho đến chiều hôm ấy…
Mưa nồm làm cỏ mộ ướt mềm. Tôi ngồi lau bụi trên di ảnh vợ. Cách đó vài hàng mộ, một bé gái lom khom nhổ cỏ. Con bé ngẩng lên, cây chổi rơi đánh sột. “Chú ơi… cô này giống cô Nguyên nhà ngoại con quá!”
Tim tôi như bị búa bổ. “Con nói ai?” Bé Hương ngây thơ: “Cô Nguyên ở nhà ngoại con á. Giống lắm, cái miệng, cái mắt…” Nó còn lí nhí hát vài câu bài hát Nguyên từng hát cho tôi nghe đêm dọn nhà mới.
Tôi run đến mức cán chổi va vào nhau lộp cộp. Bà Sáu – bà ngoại bé Hương – kéo cháu lại, nhưng đã muộn. “Người biển dạt vô hơn ba năm, tôi cưu mang…” Ba năm. Đúng ba năm.
Tôi lái xe theo bé Hương về xóm trại ven biển. Căn chòi lợp tôn cũ, mùi cá khô, bùn non. Người phụ nữ ngồi gỡ lưới ngẩng lên. Gầy guộc, da rám nắng, vai trái sẹo bỏng. Nhưng là Nguyên. Vợ tôi.
Cô hoảng loạn, lùi lại ôm đầu:…………………………………………………………..
“Đừng lại gần!” Cô không nhớ tôi. Không nhớ gì cả.
Tôi đứng chết lặng ngoài hiên. Niềm vui vừa chớm đã tắt ngấm. Vợ tôi còn sống, nhưng nhìn tôi như kẻ lạ nguy hiểm. Bà Sáu kể: biển dạt vô sau đêm cháy, không giấy tờ, không tên, chỉ có khăn tay thêu chữ N. Họ gọi cô là Nguyên. Ba năm cô sống trong nghèo khó, vẫn hiền lành, giúp bà vá lưới, dạy bé Hương đánh vần, sợ lửa, sợ tiếng nổ.
Tôi đưa mọi người về căn nhà ven đầm kín đáo. Bác sĩ Thu Hà nói: ký ức bị chấn thương chôn vùi. Đừng ép. Tôi học cách im lặng đặt ly nước ấm, đĩa xoài cắt miếng, nồi canh chua đúng vị. Chú Tín lén điều tra. Những mảnh ghép dần lộ: ly rượu lạ mùi, camera mất tín hiệu, xuồng nhỏ rời tàu đêm cháy, giấy ủy quyền chuyển nhanh sau tang lễ. Tất cả chỉ về Gia Bảo.
Cô phục vụ Mai khóc kể: thấy thư ký Bảo đưa ly rượu cho Nguyên, nói “Anh Lộc gửi chị.” Anh Tư Cang thợ máy thú nhận bị thuê che camera. Thảo Nguyên dần nhớ mảnh: ai đó kéo cô, mùi thuốc, tiếng lửa, bàn tay gỡ tay cô cầu cứu…
Tôi lập kế hoạch. Giả vờ đính hôn với Quỳnh Như để dụ. Đêm tiệc, màn hình hiện bằng chứng. Nguyên bước vào, lưng thẳng, vai sẹo mờ. Cô nhìn Gia Bảo: “Chính anh kéo tôi xuống khoang sau.” Rồi nhìn Quỳnh Như: “Tôi níu váy cô cầu cứu, cô gỡ tay tôi ra.”
Gia Bảo cuống cuồng chối. Còng tay bấm vào tay nó. Ông Khang tái mét. Hội trường im bặt. Không reo hò, chỉ có nỗi buồn nặng trĩu vì phản bội từ người nhà.
Sau đó, tôi đưa Nguyên về. Bà Sáu và bé Hương ở nhà sau vườn. Bé Hương có cặp mới đi học. Bà Sáu có chỗ bán đồ khô sạch sẽ. Sáng nào Nguyên cũng run run châm bếp nấu canh chua. Ngọn lửa phụt lên, tôi bước tới vặn nhỏ, đứng bên cô không nói gì. Cô gắp miếng cá nạc bỏ vào chén tôi, bỏ hành sang một bên như xưa.
Tôi nhìn vợ, mắt cay xè. Ba năm quỳ trước mộ lạnh, trong khi người ta cưu mang vợ tôi bằng lòng tốt. Một bàn tay nghèo đưa ra đúng lúc, một câu nói ngây thơ của đứa trẻ, một nồi canh chua đúng vị… tất cả đã cứu lại những gì tưởng đã mất.
Bây giờ nhà tôi lại có mùi cá kho, tiếng muỗng chạm bát khẽ khàng. Nguyên vẫn chưa nhớ hết, nhưng cô hay nắm tay tôi lúc nửa đêm giật mình. Tôi siết lại, thì thầm: “Anh ở đây.”
Cuộc sống không trở lại như xưa. Vết sẹo trên vai cô vẫn còn, nỗi sợ trong mắt cô vẫn thoáng qua mỗi khi nghe tiếng lửa. Tôi cũng không còn là người đàn ông sắt đá ngày trước. Nhưng chúng tôi đang học lại từ đầu, chậm rãi, dịu dàng. Như cách Nguyên từng chỉnh cà vạt cho tôi, như cách bà Sáu cưu mang một người lạ giữa bão tố.
Có những câu chuyện không có kết thúc đẹp hoàn hảo. Chỉ có nỗi đau đã qua, sự thật đã rõ, và lòng biết ơn còn lại. Tôi học được rằng, tiền bạc, quyền lực không cứu được ai khi chính người nhà đâm sau lưng. Nhưng lòng tốt, dù từ xóm nghèo ven biển, lại có thể cứu cả một đời người.
Chiều nay, tôi lại ra hiên nhìn Nguyên dạy bé Hương đọc bài. Gió đầm thổi qua hàng phi lao. Cô ngẩng lên nhìn tôi, mỉm cười rất khẽ. Không phải nụ cười xưa, nhưng là nụ cười của người đã chọn ở lại.
Và với tôi, đủ rồi.





