Tôi ngồi trên chiếc ghế bành cũ kỹ trong căn nhà tập thể, tay run run cầm tách trà sen đã nguội lạnh. Bỗng nhiên ông Tư – đồng đội cũ từ nửa thế kỷ trước – quỳ sụp xuống trước mặt tôi, nước mắt giàn giụa, giọng vỡ òa: “Anh Bách ơi… Trầm chưa chết. Giấy báo tử năm xưa là giả…”
Tim tôi như ngừng đập. Cả căn phòng đang rộn ràng tiếng cười con cháu mừng thọ 80 tuổi bỗng chìm vào im lặng chết chóc. Tôi túm chặt cổ áo ông Tư, gào lên trong tuyệt vọng: “Ông nói cái gì? Trầm bị bom napalm thiêu trụi, không còn xác rồi cơ mà!”
Lúc ấy, tôi chưa hề biết rằng, sự thật phía sau còn kinh hoàng, day dứt và xé nát tâm can gấp bội phần. Nó sẽ lật tung toàn bộ cuộc đời tôi, khiến tôi phải đối mặt với nỗi ân hận lớn nhất kiếp người.
Tôi tên Bách, năm nay tám mươi tuổi. Hơn năm mươi năm trước, tôi là chàng trai Hà Nội hai mươi tuổi, trái tim sục sôi nhiệt huyết, khoác ba lô hành quân vào Nam. Chiến trường Trường Sơn khói lửa mù mịt, bom đạn như mưa rào, sự sống và cái chết chỉ cách gang tấc. Giữa địa ngục ấy, tôi gặp Trầm – cô thanh niên xung phong nhỏ nhắn nhưng gan dạ đến lạ thường.
Trầm mặc bà ba đen sờn cũ, vai gầy guộc nhưng có thể cõng thương binh nặng gấp rưỡi mình băng rừng. Ban ngày bà san lấp hố bom, tải đạn dưới mưa pháo. Đêm về, trong hầm tối, bà nhẹ nhàng băng bó vết thương cho anh em, đôi mắt sáng long lanh như chứa cả bầu trời phương Nam. Nụ cười e ấp sau vành nón lá rách bươm đã đánh gục trái tim tôi hoàn toàn.
Tình yêu thời chiến của chúng tôi không hoa hồng, không hẹn hò dưới ánh đèn neon. Chỉ là những ngụm nước nhường nhau giữa cơn khát cháy họng, những đường kim mũi chỉ vá vết rách trên vai áo, và lời thề son sắt dưới tán rừng cao su đêm trăng sáng vằng vặc.
“Trầm hãy đợi anh. Ngày đất nước hòa bình, anh sẽ mặc áo lính đẹp nhất, mang trầu cau từ Hà Nội vào rước em về làm dâu.”
Trầm khóc nức nở, quấn chiếc khăn sọc đen trắng thấm đẫm mồ hôi quanh cổ tôi. Chúng tôi ôm nhau, tin rằng đạn bom sẽ chừa chúng tôi ra. Nhưng chiến tranh là quái vật tàn nhẫn nhất. Vài tháng sau, đơn vị tôi nhận tờ giấy báo tử lạnh ngắt: “Đồng chí Nguyễn Thị Trầm anh dũng hy sinh, thi thể bị bom vùi lấp không nhận dạng.”
Tôi gục xuống hầm, khóc đến cạn nước mắt, ruột gan như bị xé toạc. Từ đó, tôi tự tay đẽo một tấm bài vị bằng gỗ rừng, bọc trong chiếc khăn kỷ vật của Trầm, cất sâu trong ba lô. Đi đến đâu, đánh trận ở đâu, tôi cũng mang bàn thờ nhỏ theo. Đêm đêm, tôi thắp điếu thuốc lá thay nhang, thì thầm: “Trầm ơi, anh ở đây… Anh vẫn chờ em…”
Trái tim tôi hóa đá. Tôi lao vào đạn bom như con thiêu thân, không còn sợ chết, chỉ mong được gặp Trầm ở suối vàng.
Năm 1975, hòa bình lập lại, tôi trở về Hà Nội với thân xác đầy thương tích, chân tập tễnh vì mảnh đạn găm. Bố mẹ xót xa, mai mối khắp nơi. Nhưng tôi cự tuyệt tất cả. Tôi đã thề một đời chỉ có Trầm.
Rồi Thục bước vào cuộc đời tôi. Cô giáo dạy văn làng bên cạnh, dịu dàng, kiên nhẫn lạ thường. Bà hay sang mượn sách, pha ấm trà xanh đặt trước mặt tôi khi tôi ngồi thẫn thờ hút thuốc đến cháy cả đầu ngón tay. Tôi thô lỗ, đóng sầm cửa. Thục không giận. Bà lặng lẽ ngồi bên, im thin thít.
Cuối cùng, tôi phải nói hết sự thật phũ phàng. Tôi mang bài vị và chiếc khăn ra ghế đá ven hồ, giọng lạnh tanh: “Tôi chỉ là cái xác không hồn. Trái tim tôi đã chết theo Trầm dưới bom napalm. Nếu lấy tôi, cô phải sống chung với bóng ma, phải san sẻ chồng với người đã khuất.”
Tôi nghĩ Thục sẽ khóc, sẽ quay lưng bỏ đi trong tủi nhục. Nhưng bà khẽ vuốt ve tấm bài vị, nước mắt rưng rưng rơi: “Anh là người đàn ông nặng tình son sắt. Chị Trầm hy sinh vì Tổ quốc, em sao dám ghen tuông? Em nguyện lùi lại phía sau, cùng anh chăm sóc nhang khói cho chị suốt đời.”
Tôi sụp đổ hoàn toàn, khóc như đứa trẻ trên vai bà. Chúng tôi nên duyên trong đám cưới thời bao cấp đơn sơ. Đêm tân hôn, Thục không lo giường chiếu trước. Bà tự tay đóng chiếc kệ gỗ, đặt bài vị Trầm lên vị trí cao nhất, thắp nhang khấn run run: “Chị Trầm ơi, em xin thay chị nâng khăn sửa túi, lo cho anh Bách từng miếng ăn giấc ngủ…”
Suốt năm mươi năm trời, Thục chưa một lần ghen tuông. Bà chăm bàn thờ Trầm chu đáo hơn cả tôi. Mỗi rằm mùng một, bà dậy từ tờ mờ sáng mua hoa huệ trắng, nấu cơm chay thanh khiết. Khi chúng tôi sinh con đẻ cái, Thục dạy con cháu từ bé: “Má Trầm là anh hùng, là người ba yêu thương nhất trên đời. Các con phải thắp nhang cho má mỗi tháng.”
Tôi tưởng rằng, sau bao giông bão chiến tranh, cuộc đời mình đã yên bình. Gia đình êm ấm, con cháu sum vầy. Nhưng số phận chưa từng buông tha.
Hôm sinh nhật tám mươi, rạp cưới chật kín tiếng cười vui, tiếng cụng ly rộn ràng. Tôi đang ngồi mãn nguyện ngắm nhìn gia đình thì ông Tư xuất hiện, lưng còng, quân phục cũ kỹ. Ông kéo tôi vào buồng trong, quỳ xuống khóc nức nở: “Anh Bách… Trầm chưa chết. Giấy báo tử là giả…”…………………………………………….
Ông Tư kể, nước mắt giàn giụa. Trong trận bom napalm kinh hoàng ấy, Trầm không chết. Thanh rầm gỗ sập xuống đè nát chân bà, bom thiêu một bên mắt và nửa khuôn mặt. Bác sĩ phải cưa bỏ chân để cứu mạng. Trầm tỉnh dậy trong thân xác tàn phế, xấu xí, đã quỳ lạy van xin ông Tư làm giấy báo tử giả.
“Chị ấy khóc, cắn nát môi: Anh Bách nặng tình lắm. Nếu biết em còn sống thế này, anh sẽ bỏ đơn vị, đào ngũ để về chăm em. Hãy để anh quên em mà sống tiếp, chiến đấu tiếp…”
Trầm chuyển vào Quảng Trị, đổi tên, sống ẩn dật trong mặc cảm. Bà cũng nghe tin sai rằng tôi hy sinh, nên lập bàn thờ cho tôi. Hai chúng tôi, cách xa hàng ngàn cây số, cùng cõng nỗi nhớ, cùng khóc thương nhau suốt năm mươi năm đằng đẵng.
Tôi sụp đổ. Cơn nhồi máu cơ tim ập đến như sét đánh. Tôi ngã quỵ, miệng lẩm bẩm gọi “Trầm ơi… anh sai rồi… anh có lỗi với em…” trong khi Thục ngồi bên giường bệnh, nắm chặt tay tôi, mắt đỏ hoe.
Ba ngày hôn mê, tôi chỉ gọi tên Trầm. Khi tỉnh lại, tôi không dám nhìn thẳng vào mắt vợ. Nước mắt trào ra: “Thục ơi… anh là thằng khốn nạn… anh có tội với bà…”
Thục lau mồ hôi cho tôi bằng chiếc khăn ấm, mỉm cười qua nước mắt rơi lã chã: “Ông đừng dằn vặt. Em đã mua vé tàu rồi. Ông cầm đi Quảng Trị tìm chị Trầm đi. Em xếp quần áo, thuốc men đầy đủ vào ba lô…”
Tôi ngỡ ngàng, giọng run: “Bà đuổi anh sao?”
Thục lắc đầu, siết chặt tay tôi, nước mắt tuôn rơi: “Không phải đuổi. Suốt năm mươi năm em may mắn được làm vợ ông, được con cháu sum vầy, chăn ấm nệm êm. Còn chị Trầm mất tất cả – nhan sắc, chân tay, thanh xuân – chỉ vì ông, vì đất nước. Em nợ chị ấy một ân tình tày trời. Ông đi đi, đón chị về. Hoặc ông ở lại chăm chị. Em nhường ông cho chị. Chị mới là vợ đích thực của ông…”
Tôi khóc nức nở, ôm vợ vào lòng như sợ mất. Một người phụ nữ có thể vị tha, cao thượng đến mức ấy sao?
Cả nhà lên đường. Khi xe dừng trước căn nhà cấp bốn rách nát, tối tăm ở Quảng Trị, tôi gõ cửa run rẩy. Cánh cửa mở. Một bà lão cụt chân, một mắt, khuôn mặt đầy sẹo co rút đứng đó, lưng còng vì năm tháng đau đớn.
“Trầm… Bách đây… Anh sống về tìm em rồi…”
Trầm ngã khụy, chiếc nạng gỗ rơi đánh cạch. Chúng tôi ôm nhau khóc. Năm mươi năm nhớ thương, oan khuất, đau đớn, tủi nhục… tất cả đổ ra trong tiếng khóc xé ruột xé gan. Tôi vuốt ve những vết sẹo trên mặt bà, nước mắt hòa lẫn: “Sao em nỡ lừa anh? Sao em ôm nỗi đau một mình để anh sống trong vô minh thế này?”
Thục bước tới, quỳ xuống ngang tầm Trầm, lau nước mắt cho bà bằng chiếc khăn lụa: “Chị Trầm ơi, em là Thục, vợ anh Bách. Chị đừng sợ. Từ nay chị là chị cả nhà em. Em xin đón chị về Hà Nội, chăm sóc chị như chị ruột…”
Trầm khóc lóc, lắc đầu: “Em tàn phế, xấu xí thế này… không xứng đáng…”
Thục nắm chặt tay bà, giọng nghẹn ngào nhưng kiên định: “Chị là anh hùng. Chị hy sinh vì anh Bách, vì đất nước. Giờ đến lượt chúng em trả nợ. Chị đừng từ chối, đừng đâm dao vào tim anh Bách lần nữa…”
Trầm sụp đổ hoàn toàn, ôm Thục khóc nức nở. Hai người đàn bà – một lành lặn, một tàn tạ – ôm nhau như chị em ruột thịt, khóc đến run cả vai.
Chúng tôi đưa Trầm về Hà Nội. Ban đầu bà mặc cảm nặng, hay né ánh mắt hàng xóm. Nhưng Thục kiên nhẫn vô bờ. Bà nhường giường êm nhất cho Trầm, thức trắng xoa bóp chân giả, nấu cháo đút từng thìa, lau từng giọt mồ hôi khi vết thương tái phát. Con cháu gọi Trầm bằng “má”, mua bánh ngon, may áo mới, quây quần kể chuyện.
Những buổi chiều thu Hà Nội dịu dàng, tôi ngồi đọc báo, Thục chải tóc cho Trầm dưới hiên nhà. Ba mái đầu bạc trắng cười nói rì rầm. Không ghen tuông, không tranh giành. Chỉ có tình nghĩa sâu nặng, bao dung và biết ơn.
Chiến tranh đã cướp của chúng tôi quá nhiều. Nhưng tình người – tình yêu vị tha của Thục – đã chữa lành tất cả. Bà dạy tôi rằng, yêu thương thật sự không phải chiếm hữu, mà là biết nhường và biết đền đáp.
Giờ đây, ngồi bên hai người phụ nữ vĩ đại nhất đời mình, tôi chỉ thấy lòng nhẹ nhõm lạ thường. Năm mươi năm oan trái đã khép lại. Còn lại là những buổi chiều yên bình dưới bóng cây xấu xơ, tách trà sen nóng, và nỗi biết ơn vô hạn với cuộc đời đã cho tôi cơ hội chuộc lỗi trước khi quá muộn.
Dẫu cuộc sống không bao giờ hoàn hảo, nhưng ít ra, chúng tôi đã tìm thấy nhau. Và đó, chính là món quà quý giá nhất mà thời gian ban tặng cho một lão già như tôi.





