Vụ H;ành Qu;yết Ngô Đình Cẩn: Bàn Tay Xòe 5 Ngón Và Điềm Báo Cuối Cùng Trước Giờ Chết

Vụ Hà;nh Qu;yết Ngô Đình Cẩn: Bàn Tay Xòe 5 Ngón Và Điềm Báo Cuối Cùng Trước Giờ Ch;ế;t…..

…………………………………………
Chiều ngày 9 tháng 5 năm 1964, bên trong những bức tường xám xịt của Khám Chí Hòa, bốn người cai ngục khiêng một chiếc băng ca đi chậm rãi qua từng hành lang tối tăm. Trên băng ca là một người đàn ông gầy gò, mặc quốc phục áo dài đen quần trắng. Đôi mắt trũng sâu của ông ta nhìn thẳng lên bầu trời đang ngả về chiều. Đó chính là Ngô Đình Cẩn – một thời được gọi là hung thần miền Trung, một thời khiến hàng ngàn người khiếp sợ mỗi khi nghe đến tên. Giờ đây ông ta nằm bất động, không thể tự mình bước đi, đang được khiêng đến nơi mà mình sẽ trút hơi thở cuối cùng. Cọc gỗ cắm giữa sân Khám Chí Hòa đã chờ sẵn. Đội hành quyết mười người đã đứng xếp hàng.
Tôi xin kể lại câu chuyện này dựa trên những lời kể của người trong cuộc: ký giả Phan Kim Thịnh (bút danh Lý Nhân) – một trong gần 40 nhà báo có mặt tại phiên tòa, và luật sư Võ Văn Quan – người bào chữa duy nhất cho Ngô Đình Cẩn, cũng là nhân chứng duy nhất chứng kiến những giờ phút cuối cùng của tử tội.
Để hiểu vì sao Ngô Đình Cẩn phải nhận án tử hình, cần nhìn lại bức tranh quyền lực của gia đình họ Ngô. Gia đình có gốc gác từ Quảng Bình. Thân phụ là Ngô Đình Khả, quan Thượng thư triều Nguyễn. Bà Phạm Thị Thân sinh được chín người con. Khi Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống năm 1955, cả gia tộc bước vào sân khấu chính trị. Ngô Đình Nhu trở thành cố vấn chính trị, bà Trần Lệ Xuân (vợ Nhu) làm đệ nhất phu nhân, Ngô Đình Thục là Tổng giám mục, Ngô Đình Luyện làm đại sứ tại Anh.
Và rồi Ngô Đình Cẩn – người con thứ tám, sinh năm 1910 tại Huế. Khác với các anh được ăn học đến nơi đến chốn, Cẩn bỏ học từ năm lớp 3 vì một mụn nhọt trên đầu. Ông ta lớn lên với thú chơi dân dã: đá gà, câu cá, nhai trầu. Người dân Phủ Cam gọi ông là “cậu út”. Nhưng đừng để vẻ ngoài quê mùa ấy đánh lừa. Bên dưới lớp áo bà ba giản dị là một bộ óc thâm hiểm và tàn nhẫn.
Khi Diệm lên làm tổng thống, Cẩn được giao chức danh “cố vấn chỉ đạo các đoàn thể cách mạng”. Nghe thì chỉ là tư vấn, nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại. Ngô Đình Cẩn chính là ông vua không ngai của toàn bộ miền Trung và Cao nguyên Trung phần. Ông ta tự xây dựng đội quân riêng, mạng lưới mật vụ riêng, hệ thống tình báo riêng. Bất cứ ai muốn làm ăn hay giữ chức vụ ở vùng đất này đều phải qua cửa Ngô Đình Cẩn. Người dân Huế gọi ông bằng một biệt danh đầy kinh hãi: “Hung thần miền Trung”.
Dưới trướng Cẩn có Phan Quang Đông – cánh tay đắc lực phụ trách Trung tâm tình báo xâm nhập miền Bắc đặt tại Huế. Nhưng ngoài nhiệm vụ tình báo, Đông còn là người thực hiện các vụ bắt giam, tra tấn và thủ tiêu người bị coi là Việt Cộng hoặc đối lập chính trị. Khu Chín Hầm khét tiếng ở Huế – nơi giam giữ và hành hạ người bất đồng chính kiến – nằm dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Cẩn.
Ngô Đình Cẩn kiểm soát cả nền kinh tế miền Trung: phân phối gạo, thao túng các hợp đồng viện trợ từ Mỹ, thu lợi từ mọi hoạt động thương mại lớn. Tài sản của ông không nằm dưới tên mình, tất cả đều được giao cho người khác đứng tên. Nổi tiếng nhất trong hệ thống giam giữ của Cẩn là khu Chín Hầm – những hầm xi măng xây dựa vào vách đồi ở phía tây Huế, mỗi phòng rộng 2×3 mét, cửa sắt dày, không khí ẩm thấp ngột ngạt. Nhiều người bị đưa vào rồi không bao giờ trở ra. Sau khi chế độ Diệm sụp đổ, người ta phát hiện những ngôi mộ tập thể trên vùng đất thuộc quyền kiểm soát của Cẩn, khoảng 200 thi thể được tìm thấy.
Cách Cẩn trừng phạt kẻ thù mang đậm tính cách thâm hiểm. Có câu chuyện kể rằng dược sĩ Nguyễn Cao Thăng từng chê bai Cẩn “chỉ là hạng nhai trầu, dựa thế cha anh mà làm tàng”. Khi có quyền trong tay, Cẩn ra lệnh ném lựu đạn vào tiệm thuốc của ông Thăng trên đường Trần Hưng Đạo, Huế.
Điều kỳ lạ là trong khi gieo rắc nỗi sợ hãi khắp miền Trung, Ngô Đình Cẩn lại sống một cuộc đời giản dị: áo bà ba, dép, nhai trầu, sống trong căn nhà giường cổ bên cạnh thân mẫu. Thú vui lớn nhất của ông là đá gà – tay chơi gà nòi thuộc hàng cự phách ở Huế. Cái vẻ ngoài bình dân ấy khiến nhiều người nhầm tưởng ông chỉ là lão nông nhàn dỗi, nhưng đằng sau nụ cười nhai trầu là bộ óc tính toán sắc bén và bản tính không bao giờ nương tay.
Rồi quyền lực bắt đầu rạn nứt khi cuộc khủng hoảng Phật giáo bùng nổ năm 1963. Ngày 8 tháng 5 năm 1963, hàng ngàn Phật tử kéo đến Đài Phát thanh Huế phản đối lệnh cấm treo cờ Phật giáo. Lực lượng của Cẩn đã nổ súng vào đám đông, tám người thiệt mạng. Các cuộc biểu tình lan rộng từ Huế đến Sài Gòn. Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, hình ảnh chấn động thế giới. Chế độ Diệm đáp trả bằng bạo lực, lực lượng đặc biệt tấn công hàng loạt chùa chiền. Người Mỹ bắt đầu mất kiên nhẫn.
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Sài Gòn rung chuyển. Nhóm tướng lĩnh do Dương Văn Minh cầm đầu tiến hành đảo chính. Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bỏ trốn, bị phát hiện tại nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn. Họ đầu hàng với điều kiện được đảm bảo an toàn và lưu vong. Nhưng trên đường về căn cứ Tân Sơn Nhất, đại úy Nguyễn Văn Nhung – cận vệ của tướng Dương Văn Minh – đã dùng d;ao………………….
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
đâ;m ch;ết cả hai anh em ngay trong xe bọc thép. Chế độ Đệ nhất Cộng hòa sụp đổ trong má;u.
Tin đảo chính từ Sài Gòn chạy ra Huế rất nhanh. Đường lên dốc Phủ Cam bị xe bọc thép và lính chặn chốt – vừa để quản thúc Ngô Đình Cẩn, vừa để bảo vệ ông ta khỏi cơn giận của dân chúng. Bên trong căn nhà giường, Cẩn nhận tin qua đại úy Nguyễn Văn Minh. Ông ta không tin, lắc đầu liên tục, mắt mở to đầy kinh ngạc. Hai người anh mà ông kính trọng nhất đã bị hạ sát dã man.
Cẩn nhờ linh mục Nguyễn Văn Thuận (cháu ruột) mách nước. Linh mục Thuận bảo mọi việc phải nhờ tướng Đỗ Cao Chí. Chí bay từ Đà Nẵng ra Huế, gặp Cẩn tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, hứa sẽ đảm bảo tính mạng, đưa Cẩn sang Nhật tị nạn. Rồi Chí đưa ra yêu cầu: Cẩn phải giao tài sản. Cẩn sai đại úy Minh về nhà lấy một túi lớn đựng vàng (nặng khoảng 24kg) và một vali đô la cùng trang sức. Đỗ Cao Chí nhận túi vàng, xách lên xe rồi lái đi.
Các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế lén đến tòa lãnh sự Mỹ xin cho Cẩn được tị nạn. Trưa ngày 2 tháng 11, lãnh sự Mỹ tại Huế đến nhà Cẩn, mời ông đến tòa lãnh sự lánh nạn, thề thốt đảm bảo an toàn. Nhưng Ngô Đình Cẩn do dự – ông không nỡ bỏ mẹ già ở lại. Bà Phạm Thị Thân lúc ấy đã rất già yếu, Cẩn là người con duy nhất ở bên cạnh mẹ. Cuối cùng, trước tình thế nguy hiểm, ông vẫn phải rời đi.
Nhưng niềm tin vào người Mỹ chỉ là ảo tưởng. Tướng Đỗ Cao Chí đến gặp lãnh sự Mỹ, cảnh báo rằng dân chúng Huế có thể tràn vào phá tòa lãnh sự bất cứ lúc nào. Tòa lãnh sự Mỹ quyết định trở mặt, trao trả Ngô Đình Cẩn cho chính quyền quân sự. Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge biện minh rằng nước Mỹ không thể can thiệp vào công lý nội bộ của Việt Nam, gọi Cẩn là “nhân vật đáng khinh bỉ”.
Sáng ngày 4 tháng 11 năm 1963, Đỗ Cao Chí cùng một sĩ quan Mỹ hộ tống Ngô Đình Cẩn cùng thân mẫu lên máy bay từ Huế vào Sài Gòn. Chuyến bay cất cánh lúc 10h45. Bạo chúa miền Trung rời khỏi Huế và không bao giờ có cơ hội trở lại.
Tại sân bay Tân Sơn Nhất, Lucien Conein – viên sĩ quan tình báo Mỹ nổi tiếng – ra đón, rồi giao Cẩn cho quân đội của tướng Dương Văn Minh. Ngay lập tức, Ngô Đình Cẩn bị đưa thẳng vào Khám Chí Hòa. Cánh cửa sắt đóng sầm lại.
Trong tù, Ngô Đình Cẩn bị biệt giam ngay từ ngày đầu. Phòng giam chật hẹp, ánh sáng lờ mờ, không khí ngột ngạt. Ông bị cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài, không được gặp người thân, không được đọc báo. Chế độ đối xử với Cẩn không bao gồm tra tấn hay đánh đập, nhưng sự tàn nhẫn nằm ở những thứ nhỏ nhặt hơn.
Đồ ăn trong tù vốn tồi tệ, với Ngô Đình Cẩn – vốn mắc bệnh tiểu đường nặng – còn tồi tệ hơn gấp bội. Ông không nhận được sự chăm sóc y tế đáng kể nào. Thức ăn thô sơ, thiếu dinh dưỡng, không phù hợp với người mang bệnh nền. Bệnh tiểu đường tái phát dữ dội, đường huyết tăng cao không kiểm soát. Cùng với tiểu đường, bệnh viêm khớp cũng tái phát. Các khớp gối, khớp háng sưng đau. Cẩn mất dần khả năng đi lại. Hung thần miền Trung – con người từng khiến cả một vùng đất khiếp sợ – giờ đây nằm co ro trên chiếu mỏng trong phòng giam.
Bên ngoài, gia đình cố gắng gửi đồ tiếp tế vào, nhưng hầu hết bị chặn lại. Thứ duy nhất được phép giao đến tay Cẩn là trầu cau – như một kiểu nhạo báng tinh vi.
Nhưng nỗi đau thể xác chưa phải thứ dày vò Ngô Đình Cẩn nhiều nhất. Thứ khiến ông đau đớn hơn cả là nỗi nhớ thương thân mẫu. Suốt bao năm, Cẩn là người con duy nhất ở bên chăm sóc mẹ. Ông lo lắng không biết ai sẽ thay mình phụng dưỡng mẹ già, không biết bà có đủ ăn đủ mặc hay không, có nghe tin hai người con trai đã bị hạ sát hay chưa. Nỗi thương nhớ ấy ăn mòn ông từng ngày. Nhiều đêm trong phòng giam tối tăm, ông nằm nhìn lên trần nhà và nghĩ về căn nhà giường trên dốc Phủ Cam, nghĩ về tiếng mẹ gọi ăn cơm mỗi chiều.
Cẩn cũng không ngừng nghĩ về hai người anh bị phản bội, bị đâm chết trong xe bọc thép. Sự phản bội ấy ám ảnh ông. Bệnh nặng thêm, tinh thần suy sụp. Nhiều lần Cẩn ngất lịm trong phòng giam, tưởng như đã chết. Mỗi lần tỉnh dậy, đôi mắt ông mở ra với vẻ thất vọng – như thể cái chết trong phòng giam vẫn còn nhẹ nhàng hơn những gì đang chờ đợi phía trước.
Trong suốt những tháng ngày ấy, Ngô Đình Cẩn gần như bị cả thế giới bỏ rơi. Những kẻ từng khúm núm xưng con, nịnh bợ để xin ân huệ, giờ đây biến mất. Không ai đến thăm, không ai lên tiếng bảo vệ, không ai dám nhận mình từng có liên hệ. Có một chi tiết nhỏ nhưng nói lên rất nhiều: Cẩn liên tục hỏi về tình hình của thân mẫu, xin được gặp mẹ, xin viết thư, nhưng mọi yêu cầu đều bị từ chối. Sự cô đơn ấy có lẽ còn tàn khốc hơn bất cứ hình phạt nào.
Trong khi Ngô Đình Cẩn nằm thoi thóp trong Khám Chí Hòa, tình hình chính trị miền Nam lại tiếp tục xáo trộn. Ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh cùng tướng Trần Thiện Khiêm tiến hành đảo chính, bất ngờ hành động trong đêm. Không một tiếng súng. Các tướng lĩnh chủ chốt của cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963 bị bắt giam ngay trong đêm. Cuộc đảo chính không đổ máu ấy có một người chết: đại úy Nguyễn Văn Nhung – người đã đâm chết Diệm và Nhu – bị bắt và được thông báo đã treo cổ tự tử. Nhiều nguồn tin cho rằng Nhung bị thủ tiêu theo lệnh của chuẩn tướng Nguyễn Chánh Thi.
Nguyễn Khánh tự xưng Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng kiêm Tổng tư lệnh quân đội, kiêm luôn Thủ tướng. Một trong những việc đầu tiên ông làm sau khi nắm quyền là thiết lập tòa án quân sự đặc biệt để xét xử các nhân vật cốt cán của chế độ cũ, trong đó hai cái tên được nhắm đến hàng đầu là Phan Quang Đông và Ngô Đình Cẩn.
Trước khi đưa Ngô Đình Cẩn ra tòa, Nguyễn Khánh cho xét xử Phan Quang Đông tại Huế. Phiên tòa kéo dài ba ngày. Ngày 28 tháng 5 năm 1964, tòa tuyên án tử hình Phan Quang Đông, tịch thu toàn bộ tài sản, buộc bồi thường 18 triệu đồng cho gia đình các nạn nhân. Bản án của Phan Quang Đông như hồi chuông báo tử vang đến tận phòng giam của Ngô Đình Cẩn.
Nguyễn Khánh ra lệnh cho Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Văn Mầu nghiên cứu cách thức xét xử và tuyên án tử hình Ngô Đình Cẩn. Tòa án quân sự đặc biệt được dựng lên không phải để tìm ra sự thật – nó được dựng lên để thực thi một bản án đã được viết sẵn. Thẩm phán, thẩm tra, ủy viên chính phủ, tất cả đều là người của Nguyễn Khánh, đều đã nhận chỉ thị phải xử tử hình.
Ngày 16 tháng 5 năm 1964, phiên tòa xét xử Ngô Đình Cẩn chính thức mở tại Sài Gòn, trên đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Từ 7h30 sáng, dân chúng đã đứng dày đặc trước cửa tòa. Khoảng 10h, đoàn xe hộ tống xuất hiện. Ngô Đình Cẩn được hai hiến binh dìu từ xe bước xuống. Ông ta không thể tự đi, đôi chân đã hoàn toàn mất khả năng chống đỡ. Gương mặt xanh xao, mắt trũng sâu nhưng vẫn còn tia nhìn sắc lạnh. Ông không cúi đầu, không tỏ vẻ sợ hãi.
Luật sư bào chữa cho Ngô Đình Cẩn là Võ Văn Quan. Trong bài bào chữa của mình, luật sư Quan đã đưa ra những lập luận sắc bén. Ông yêu cầu phía công tố đưa ra bằng chứng văn bản chứng minh Ngô Đình Cẩn trực tiếp ra lệnh bắt bớ, thủ tiêu. Với danh vị cố vấn, Cẩn chỉ có quyền cho ý kiến về đường lối chính trị, không có hiệu lực ràng buộc, không có văn bản nào cho phép cố vấn ra lệnh trực tiếp cho công an.
Luật sư Quan cũng chỉ ra rằng những nhân chứng chính là các nhân viên công an dính líu vào các vụ bắt gián điệp, họ đang đổ lỗi cho cấp trên để chạy tội cho mình. Ông nói: “Ngày xưa họ luôn cúi đầu bao nhiêu thì sau cuộc đảo chính họ càng a dua mạt sát, giẫm đạp người cũ để mong che lấp quá khứ gian lận và lập công với chế độ mới bấy nhiêu. Âu cũng là thói đời đen bạc. Lắm kẻ đua nhau phú thịnh, mấy ai dám phú suy.”
Kết thúc bài bào chữa, luật sư Quan đề nghị tòa tuyên tha bổng cho bị cáo. Nhưng khi ra ngoài, ông nói với các nhà báo bằng giọng trầm buồn: “Tôi thừa biết không bao giờ có bản án tha cho Ngô Đình Cẩn.”
Đến lượt Ngô Đình Cẩn nói lời cuối cùng. Ông ta ngồi trên ghế trước vành móng ngựa, thong thả khẳng định mình vô tội. Giọng điềm tĩnh, rõ ràng. Ông không van xin, không cầu khẩn, không tỏ ra run sợ trước viễn cảnh bị tử hình. Nói xong, ông im lặng, đôi mắt nhìn thẳng về phía hội đồng xét xử, như thể đang thách thức.
Ngày 22 tháng 5 năm 1964, Ngô Đình Cẩn bị kết án tử hình, tịch thu toàn bộ tài sản. Ông nghe bản án mà không thay đổi sắc mặt, không khóc, không kêu oan.
Sau phiên tòa, luật sư Quan soạn đơn xin ân xá, mang vào Khám Chí Hòa cho Cẩn ký. Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cũng gửi thư đến Quốc trưởng Dương Văn Minh xin ân xá, với lý do Cẩn đang bệnh nặng, gần như nằm liệt, việc hành quyết là không cần thiết. Tất cả đều bị bác bỏ.
Ngày 8 tháng 5 năm 1964, linh mục Jean Baptist Lê Văn Thí vào Khám Chí Hòa làm lễ cho tử tội. Sáng 9 tháng 5, luật sư Võ Văn Quan vào thăm Cẩn lần cuối. Cẩn kể về thân thế, về những thủ đoạn chính trị, về các cuộc trấn áp, và khẳng định “làm chính trị thì phải chấp nhận như thế”. Rồi ông têm trầu nhai bỏm bẻm, lấy giấy cuốn thuốc lá hút. Khi luật sư Quan đứng dậy cáo từ, Cẩn bắt tay rất chặt, đồng thời luồn tay trái xuống gầm bàn xòe ra năm ngón – báo hiệu chiều nay 5 giờ ông sẽ bị hành quyết.
Khi được hỏi lời cuối cùng có xin ân huệ gì không, Ngô Đình Cẩn chỉ xin một điều: được mặc quần trắng áo dài đen – bộ quốc phục Việt Nam thời chế độ Ngô Đình Diệm. Chiếc áo dài đen ấy do chính thân mẫu may cho ông khi còn ở Huế. Ông muốn được chết trong chiếc áo mẹ may.
17 giờ chiều, bốn cai ngục khiêng băng ca đưa Cẩn ra sân. Cọc gỗ đã cắm sẵn. Cẩn được dìu ra cột. Một người lính nói nhỏ: “Xin phép được trói hai tay ra đằng sau.” Khi bị bịt mắt, Cẩn lắc đầu: “Tôi không chịu bịt mắt, tôi không sợ chết.” Nhưng người ta vẫn buộc khăn đen che gần hết khuôn mặt.
Lời cuối cùng của Ngô Đình Cẩn: “Xin Chúa tha thứ cho kẻ giết mình.”
18h20, thiếu tá Nguyễn Văn Đức giơ tay ra lệnh. Một loạt súng nổ. Ngô Đình Cẩn sụp người xuống, máu từ ngực chảy loang xuống chiếc quần trắng. Viên chỉ huy đội hành quyết chạy đến, dí súng vào tai Cẩn bắn phát đạn ân huệ.
Trong cùng ngày, lúc 13h00 tại sân vận động Tự Do ở Huế, Phan Quang Đông cũng bị xử bắn trước đám đông. Vợ Đông lúc ấy đang mang thai sắp đến ngày sinh, bà ngất lịm ngay tại pháp trường. Chủ và tớ cùng chết trong cùng một ngày.
Thi hài Ngô Đình Cẩn được an táng tại nghĩa trang chùa Phổ Quang (Bắc Việt tương tế), gần sân bay Tân Sơn Nhất. Sau năm 1975, nghĩa trang bị di dời, mộ Cẩn được chuyển về nghĩa trang Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương, nằm cạnh thân mẫu Phạm Thị Thân cùng hai người anh – Diệm và Nhu. Bốn ngôi mộ xếp cạnh nhau, không biển tên hoành tráng, không bia đá nguy nga.
Nhìn lại toàn bộ câu chuyện, từ ngày Ngô Đình Cẩn ngồi trên ghế gỗ ở dốc Phủ Cam phán quyết vận mệnh hàng ngàn người, cho đến ngày ông nằm trên băng ca bị khiêng ra pháp trường – khoảng cách chỉ vỏn vẹn chưa đầy 6 tháng. Sáu tháng để đi từ đỉnh cao quyền lực xuống vực sâu diệt vong.
Trong sáu người con trai của Ngô Đình Khả, chỉ có hai người thoát khỏi cái chết bạo lực. Ngô Đình Khôi bị giết năm 1945. Diệm và Nhu bị đâm chết năm 1963. Cẩn bị xử bắn năm 1964. Thục sống lưu vong. Luyện thoát nạn vì đang ở nước ngoài. Một gia tộc từng nắm trong tay vận mệnh quốc gia, rốt cuộc lại kết thúc trong máu.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!