8 Ngày 8 Đêm Giữa Biển Chết: 85 Con Người Và Phép Màu Tồn Tại Không Ai Tin Nổi

8 Ngày 8 Đêm Giữa Biển Ch;ết: 85 Con Người Và Phép Màu Tồn Tại Không Ai Tin Nổi

…………………………………………..

Tôi là Trần Minh Lộc, trước năm 1975 từng là sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng hòa. Khi miền Nam sụp đổ, tôi bị bắt đưa đi học tập cải tạo suốt 8 năm biệt giam. Tháng 7 năm 1982, khi được thả, trời mưa như trút. Tôi bước ra khỏi cổng trại với thân hình gầy nhom, không ai đón, không ai tiễn. Mẹ tôi đã già đi nhiều, lưng còng, tóc bạc trắng nhưng vẫn nhận ra tôi ngay từ đầu ngõ. Bà ôm tôi run rẩy: “Con về rồi hả Lộc?” Tôi cúi đầu không nói được lời nào.

Vợ tôi cùng con gái nhỏ đã vượt biên thành công, hiện định cư ở Mỹ. Nhà chỉ còn hai mẹ con. Đêm đầu tiên về lại căn nhà xưa, tôi không ngủ được. Mẹ lặng lẽ nấu cho tôi nồi nước tắm, đưa cho tôi chiếc khăn mặt cũ. Bà ngồi xuống bên tôi, giọng nghẹn ngào: “Con biết không, trước khi con được thả, đã có hai nhóm vượt biên đến tìm người lái tàu. Mẹ biết con rồi cũng sẽ đi, nên không ngăn nữa. Mẹ đã mua cho con cái xe đạp, lỡ có ai theo dõi con dễ xoay sở.”

Tôi lặng người. Cái cách mẹ nói nhẹ như gió thoảng nhưng tôi hiểu đó là một cuộc tiễn biệt thầm lặng.

Tôi bắt đầu dò la tin tức. Ở Sài Gòn lúc ấy, chuyện vượt biên gần như đã thành công khai. Những người bạn cũ gặp lại tôi đều chỉ nói một câu: “Anh Lộc, nếu có đi cho tụi tôi theo với.” Một chiều tôi đạp xe sang Cần Đước thăm cậu. Cậu tôi từng đi ghe ra miền Trung nên có giữ lại tấm bản đồ biển cũ. Khi cậu trải ra trước mặt tôi, nhìn những đường vẽ đứt khúc, từng tọa độ chấm mờ, trong lòng tôi rạo rực. Đó không chỉ là bản đồ mà là tấm vé sống sót.

Vài ngày sau, hai người bạn thân tìm đến: Huỳnh Tấn Khang, bạn học từ thuở tiểu học; và Trần Quốc Dũng, anh rể của em tôi, nguyên là tiểu đoàn trưởng. Cả hai khẩn khoản xin theo. Tôi gật đầu. Với những người đã từng mất tất cả, vượt biển là cơ hội cuối cùng.

Mấy ngày sau, mẹ tôi mở chiếc hộp gỗ nhỏ lấy ra vài chiếc nhẫn vàng và bộ đồ cũ: “Vợ con cầm đi để phòng thân. Con đi nhớ giữ lấy mạng để còn gặp lại vợ con.” Tôi nghẹn ngào không nói được gì.

Sáng sớm ngày 15 tháng 10 âm lịch năm 1982, tôi rời Sài Gòn xuống Cần Thơ. Tôi ở lại nhà Khang hai ngày, được giới thiệu gặp người đứng đầu tổ chức. Khi được dẫn ra bến xem ghe, tim tôi trùng xuống: đó chỉ là một chiếc ghe chở gạo cũ kỹ, dài 12m, thân gỗ đã tróc sơn. Tôi yêu cầu chuẩn bị thêm tám bao gạo, hai tấm nylon dày, bốn cây cột và dây chão tốt. “Để làm gì?” Họ hỏi. “Để đề phòng bất trắc. Tôi cần buồm và gió.”

Tối 18 tháng 10, mẹ tôi gửi vào cho tôi một gói nhỏ. Bên trong là tờ giấy viết bằng nét chữ run: “Con đi nhớ giữ lấy mạng. Nếu còn sống nhớ về thăm mộ mẹ.” Tôi đọc đến thuộc lòng, thức trắng đêm ấy.

Sáng hôm sau, tôi bước lên ghe. Nắng chiếu chói lòa trên mặt sông. Trước khi rời bến, tôi bắt gặp một người phụ nữ trẻ ôm đứa bé gái chừng một tuổi. Tôi hỏi tên cháu, chị bảo: “Ánh Linh.” Tôi lấy chén rượu nhỏ rót xuống mặt sông, nói lớn: “Từ giờ con tàu này mang tên Ánh Linh. Nguyện đi không trở lại.”

Chiều buông, gió thổi mạnh. Tôi ngồi sau bánh lái, cảm giác như 85 sinh mạng đang dồn lên vai mình. Khi ánh mặt trời cuối cùng tắt, ghe bắt đầu rẽ sóng ra khỏi cửa Định An. Đằng sau là quê hương mà có lẽ tôi sẽ không bao giờ còn đặt chân về nữa.

Đêm đầu tiên, tôi gần như không rời bánh lái. Đến rạng sáng ngày thứ hai, máy ghe bắt đầu trục trặc, nước tràn vào. “Tát nước đi!” Tôi hô lớn. Cả ghe rộn lên, ca chén lon sữa bò rỗng, ai có gì múc nấy. Máy tắt hẳn. Không còn tiếng nổ, chỉ còn tiếng sóng. Tôi bảo mọi người lấy hai tấm nylon dựng buồm. Gió nổi lên, ghe nghiêng đi một bên. “Bám chặt!” Tôi hét. Một phụ nữ trẻ mất đà ngã xuống mạn, có người kịp kéo lại. Đêm thứ hai, mưa trút như xé trời. Tôi ướt sũng, tay tê cứng, buộc dây chão quanh eo để khỏi bị sóng cuốn.

Đến gần sáng, sóng dịu lại. Tôi rã rời, cắn miếng sâm mẹ cho, nhớ lời bà dặn: giữ lấy mạng.

Ngày thứ ba, lương thực cạn dần. Mỗi người một nắm cơm nhỏ, nước chỉ vài hớp. Một bà mẹ lén lấy sữa cho con bị người khác bắt gặp. Tôi bước ra giọng dứt khoát: “Mọi thứ chia đều. Con nít cũng như người lớn.” Tôi rót sữa vào lon nhỏ, chuyền tay từng người. Có người chỉ liếm một giọt rồi nhường cho đứa bé bên cạnh.

Chiều hôm đó, mây đen kéo đến. Tôi biết sẽ có bão. Tôi bảo mọi người gom vào khoang. Gió bắt đầu thổi mạnh. Tôi khẽ nhắm mắt cầu nguyện, không cầu được cứu, chỉ cầu con ghe đừng lật. Sóng ập tới từng cơn, ghe nghiêng hẳn, nước tràn vào. Tiếng la hét vang dậy. Tôi siết chặt bánh lái, nhớ lại những năm tháng trên chiến hạm, nhớ ánh mắt của những người đồng đội đã nằm lại. Tôi nói thầm: “Phù hộ cho những người này.”

Đêm thứ ba trôi qua như ác mộng………….

Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

TẠI ĐÂY 👇👇👇

Khi bình minh ló lên, ghe vẫn nổi, mọi người vẫn sống. Tôi ngồi phịt xuống sàn, kiệt sức.

Đến trưa, chúng tôi thấy một chấm đen giữa chân trời. Hóa ra là tàu đánh cá Thái Lan. Tôi biết nguy hiểm: không ít tàu Việt Nam bị cướp, phụ nữ bị hãm hiếp, đàn ông bị giết. Tôi ra hiệu tắt đèn, giữ im lặng. Tàu Thái đi lướt qua rồi khuất dần. Cả ghe thở phào. Nhưng chiếc la bàn duy nhất đã rơi xuống biển trong cơn hoảng loạn.

Đêm đó, tôi ngủ thiếp đi bên cột buồm và mơ thấy một người đàn ông da đen mặc áo trắng. Ông bảo: “Đi về hướng đông nam, ở đó con sẽ tìm thấy đất liền.” Tôi tỉnh dậy, mồ hôi ướt đẫm. Tôi kể cho Khang nghe, anh bảo có thể là thánh Martin. Tôi quyết định đổi hướng.

Đêm tiếp theo, tôi lại mơ. Lần này là một người phụ nữ áo trắng, bà khoát tay về hướng nam: “Đừng ghé vào nơi đó. Hãy đi tiếp.” Tôi nhìn thấy một hòn đảo nhỏ trước mắt, nhưng tôi ra lệnh: không vào đảo. Một vài người phản đối, nhưng tôi kiên quyết. Ba ngày sau, chúng tôi nghe tin hòn đảo đó là nơi hải tặc Thái Lan giam giữ và giết hại thuyền nhân. Tôi lạnh sống lưng.

Ngày thứ bảy, chúng tôi thấy một đàn hải âu. Tôi hô lớn: “Có đất gần đây rồi!” Cả ghe bừng tỉnh. Gió thổi mạnh hơn, như có bàn tay vô hình đẩy chúng tôi về phía trước. Khi bình minh lên, hòn đảo hiện rõ: Pulau Bidong – trại tỵ nạn nổi tiếng. Tôi bật khóc. Tôi đã không khóc suốt 8 năm tù, không khóc trong bão tố, nhưng lúc ấy nước mắt cứ trào ra. “Tự do rồi,” tôi thì thầm.

85 người trên ghe Ánh Linh đều được cứu. Không ai chết. Nhân viên Cao ủy Liên Hiệp Quốc ghi lại: ghe số 836 đến Bidong ngày 28 tháng 10 âm lịch năm 1982.

Tôi sống ở Bidong gần một năm. Tôi được bổ nhiệm làm trưởng khu, phụ trách an ninh. Tôi lập đội tuần tra đêm, giữ trật tự cho trại. Có hôm tôi thấy mấy đứa trẻ ngủ gục bên đống lửa, tôi đắp chăn cho chúng. Một đứa hỏi trong mơ: “Chú ơi, mai mình có về nhà không?” Tôi chỉ biết nói: “Rồi sẽ có một mái nhà khác.”

Một lần, tôi nghe tin chính phủ Mã Lai muốn trả hơn 400 trẻ mồ côi về Việt Nam. Tôi viết kiến nghị gửi UNHCR: “Chúng tôi, những thuyền nhân sống sót, xin nhận chúng làm con, làm cháu. Xin hãy cho chúng cơ hội được sống và lớn lên trong tự do.” Bác sĩ Peter, người Đức đứng đầu tổ chức y tế, đã giúp tôi. Rồi một chiều, ông chạy đến, tay cầm công văn, mắt sáng rực: “We did it! The children will go to America!” Những đứa trẻ được sang Mỹ.

Ngày tiễn các em, cả trại tràn ra bãi biển. 400 đứa trẻ xếp hàng dài. Một em nắm tay tôi không buông: “Chú ơi, con sợ.” Tôi cúi xuống: “Đừng sợ, phía trước là nhà mới.”

Vài tuần sau, tôi nhận được lá thư từ Mỹ, nét chữ trẻ con nguệch ngoạc: “Dear Uncle Loc, thank you for saving us. We love you.” Tôi đọc mà tay run, gấp lá thư lại đặt vào cuốn sổ nhật ký.

Tôi cũng được bảo lãnh sang Mỹ. Ngày rời Bidong, tôi lấy hòn đá nhỏ khắc chữ “836 – Ánh Linh – 85 người sống sót – 1982”, chôn dưới gốc dừa gần bờ. Tôi muốn nó ở lại để kể câu chuyện của chúng tôi với những ngọn sóng không biết mỏi.

Giờ đây, hơn 40 năm trôi qua, tôi sống bình yên ở một đất nước khác. Nhưng mỗi khi nghe tiếng gió, tôi lại thấy hồn mình trở về với biển Đông – nơi tôi đã suýt chết, đã sống, đã gặp những con người mang trong tim cùng một khát vọng. Tôi viết những dòng này không để kể công, không để bi thương, mà để nhắc lại rằng có những con người đã rời bỏ quê hương không phải vì ghét bỏ, mà vì muốn được sống như con người. Và có những người dù trôi dạt phương nào vẫn mang trong mình một phần biển Việt Nam – mặn mà, sâu thẳm và đầy tình thương.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!