Tôi Làm Ô Sin Ở Hà Nội Suốt 8 Năm. Một Hôm, Chủ Nhà Vu Oan T;ôi Ă;n Cắp Dây Chuyền Vàng 25 Triệu Rồi Đuổi Việc. Về Đến Quê, Mở Túi Quần Áo Ra Tôi…………

Tôi Làm Ô Sin Ở Hà Nội Suốt 8 Năm. Một Hôm, Chủ Nhà Vu Oan Tôi Ă;n C;ắp Dây Chuyền Vàng 25 Triệu Rồi Đuổi Việc. Về Đến Quê, Mở Túi Quần Áo Ra Tôi…………
Sáng chủ nhật hôm đó, trời Hà Nội hửng nắng. Tôi dậy từ 4 rưỡi, vo gạo nấu cháo cho ông Thiện, là ủi áo sơ mi cho chồng cô Liên, rồi cặm cụi lau dậy bậc cầu thang. Tám năm nay, nếp sống của tôi chưa từng sai lệch. Chồng tôi mất sớm, con gái lấy chồng tận Đồng Nai. Tôi lên thành phố làm giúp việc. Tám năm ở căn nhà bốn tầng này, tôi thuộc từng viên gạch men, từng thói quen của mỗi người.
9 giờ sáng, tiếng giày cao gót nện cộp cộp trên sàn gỗ. Giọng Liên, con dâu ông Thiện, vọng xuống: “Bà Mai, sáng nay bà có thấy sợi dây chuyền vàng 25 triệu của cháu để trên tủ trang điểm không?” Tôi đang nhặt rau dưới bếp, lau tay vào tạp dề: “Cô Liên, sáng nay tôi chỉ lau hành lang ngoài cửa, phòng ngủ của cô chú tôi chưa bước vào.” “Cháu lật tung cả phòng rồi. Từ hôm qua đến giờ chỉ có mấy người trong nhà. Bà bảo không thấy thì nó có cánh mà bay à?” Tôi khựng lại. 62 tuổi, một đời làm nông, tám năm làm mướn. Cái kim sợi chỉ của người ta tôi chưa từng nhón tay. “Cô nói thế là ý gì? Tôi làm ở nhà này 8 năm, cô chú để tiền giấy rác trên bàn tôi còn gom lại cất cho.” “Ai mà biết được lòng dạ. Tám năm thì tám năm, nghĩ nhà chủ nhiều đồ thì lấy một món chắc không ai biết.”
Chồng Liên bước xuống, thắt dở cà vạt. Liên lướt mắt về cái kho nhỏ dưới gầm cầu thang – chỗ tôi ngủ, một cái giường xếp, một cái túi vải dù cũ kỹ. “Bà Mai, cháu phải kiểm tra đồ đạc của bà.” Tôi gật đầu: “Cô cứ khám, đồ của tôi ở hết trong cái kho kia. Tôi không lấy, tôi không sợ.” Liên xăm xăm vào kho, lôi cái túi của tôi ra giữa phòng khách, trút ngược xuống sàn. Mấy bộ quần áo cũ, lọ dầu gió, hộp thuốc huyết áp rớt lả tả. Mũi giày cô ta dừng ở chiếc áo khoác len màu bã trầu, cúi xuống móc tay vào túi áo, giật mạnh ra. Dưới ánh đèn trùm, sợi dây chuyền vàng đính đá ruby lấp lánh đung đưa trên ngón tay sơn móng đỏ chót.
Tôi đứng chết lặng. Đầu ù đi. Sao nó lại nằm trong túi áo len của tôi? Cái áo đó tôi giặt từ tuần trước, gấp gọn dưới đáy túi. “Cô Liên, có người vu oan cho tôi.” “Vu oan à? Cháu tự nhét vào đồ bà để vu oan một bà ở xin già?” Cô ta ném cái áo xuống đất, giọng rít lên. “Cháu nghi ngờ từ lâu rồi. Bà tưởng chăm bố cháu vài hôm thì muốn làm gì thì làm? Mồi chài người già để moi tiền.” Tôi quay sang ông Thiện, ông cụ 78 tuổi đang đứng dựa lưng vào tường. Ông nhắm nghiền mắt, khuôn mặt nhăn nheo rúm ró, nhưng tuyệt đối không mở miệng. Tôi hiểu rồi. Cái bẫy này giăng ra để tống cổ tôi một cách nhục nhã, chặt đứt sự liên kết giữa tôi và ông Thiện.
Tôi cúi xuống nhặt từng chiếc áo nhét lại vào túi, kéo khóa, đứng thẳng. Không khóc. “Được. Nếu cô chú đã nói vậy, tôi đi. Tiền lương nửa tháng này tôi bỏ.” “Đi ngay. Đừng bao giờ vác mặt đến cái nhà này nữa.” Tôi xách túi về phía cửa, nhưng trước khi bước ra, tôi quay lại nhìn ông Thiện: “Ông Thiện, tôi xin phép tôi về. Ông ở lại nhớ giữ gìn sức khỏe.” Ông nhìn tôi, khóe mắt đỏ hoe, giọng khàn đặc: “Bà Mai… bà vào bếp pha cho tôi ấm trà Thái Nguyên một ấm cuối cùng rồi bà hẵng đi.”
Liên hừ lạnh rồi quay ngoắt lên lầu. Giữa phòng khách chỉ còn tôi và ông Thiện. Một ấm trà cuối cùng. Tôi đặt túi xuống, bước vào bếp. Căn bếp này là thế giới của tôi tám năm qua. Tôi đun nước, tráng ấm, đong đúng một thìa rưỡi mạn trà thả vào. Mùi hương cốm non bay lên thoang thoảng. Cái mùi quen thuộc này từ ngày mai tôi sẽ không còn được ngửi. Tôi bưng khay trà ra, rót chén nước vàng ong đẩy về phía ông: “Trà của ông đây. Hôm nay tôi pha hơi nhạt, bác sĩ dặn huyết áp ông không ổn.” Ông không với tay lấy ngay, bàn tay run bần bật trên đầu gối. Ông ngẩng lên nhìn tôi, mắt đục ngầu: “Bà Mai… Quê bà đợt này đang vào mùa gặt phải không?” Tôi khựng lại. Giữa lúc giàu sôi lửa bỏng, ông hỏi tôi về mùa gặt. Nhưng tôi hiểu người già – họ nói câu không liên quan để che giấu bất lực. “Vâng, làng tôi đang gặt rộ.” “Về quê tốt. Sống ở Hà Nội này ngột ngạt quá.” Ông nâng chén trà nhấp một ngụm: “Trà hôm nay ngon. Tám năm nay chỉ có bà pha đúng ý tôi.”
Tôi đứng lặng, lòng trống rỗng. Ông có cơ ngơi bề thế, con trai giám đốc, con dâu phó phòng, nhưng ông nghèo nhất căn nhà này. Tình thân máu mủ rách nát đến mức ông không dám mở miệng bênh vực tôi. “Ông Thiện, ông nhớ uống thuốc đúng giờ. Tôi đã ngâm sẵn trần bì mật ong để góc tủ bếp.” Ông đặt chén xuống, hai bờ vai gầy guộc rung lên. Ông đang khóc. Người đàn ông cả đời sắt đá nay khóc không thành tiếng. “Đời này tôi nợ bà một ân tình không bao giờ trả được.” Tôi cúi đầu chào ông thật sâu, tám năm khép lại. Tôi quay lưng xách túi ra đi. Cánh cửa gỗ lim đóng lại phía sau, tiếng sập khô khốc. Tôi không quay đầu.
Trên xe buýt về bến Giáp Bát, tôi nhìn phố xá trôi lùi. Tôi nhớ ngày đầu tiên bước chân lên Hà Nội, 54 tuổi, chồng vừa mất. Tôi cắn răng lên phố kiếm tiền. Tám năm, tôi đã cống hiến toàn bộ sức lực, coi ông Thiện như người anh lớn, nhưng đổi lại bị tống cổ với danh ăn cắp. Về đến nhà ở Thái Bình, căn nhà ngói ba gian ọp ẹp. Tôi đặt túi xuống sập gụ, thắp cho ông nhà tôi nén nhang. Mở túi lấy quần áo thay, bàn tay chạm vật cứng dưới lớp lót nilon rách. Tim đập thình thịch. Tôi rút ra cuốn sổ màu xanh lá cây và phong bì trắng. Cuốn sổ ghi: SỔ TIẾT KIỆM CÓ KỲ HẠN, cột số tiền: 1.000.000.000 đồng. 1 tỷ đồng. Chỉ có một người duy nhất làm được việc này.
Tay run mở phong bì, bên trong hai tờ giấy, nét chữ xiêu vẹo của người liệt nửa người. Tôi đọc:…….
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
“Bà Mai, khi bà đọc được những dòng này, chắc bà đã về quê an toàn. Tôi xin lỗi vì sự im lặng đớn hèn của tôi trong cái buổi sáng chủ nhật hôm nay. Tôi biết mình không sống được bao lâu nữa. Một tỷ này tôi tặng bà. Bà là người duy nhất đối xử với tôi bằng tình người. Tuyệt đối không được quay lại tìm tôi. Vĩnh biệt bà, người tri kỷ của tôi.” Nước mắt tôi trào ra. Ông dùng sự minh mẫn cuối cùng để sắp xếp cho tôi một con đường sống, còn ông tự nhận sự cô độc.
Tôi không thể ngồi yên. Sáng hôm sau, tôi xách túi quay lại Hà Nội, tìm bà Tâm quán nước. Bà Tâm kể: “Cái sáng chủ nhật bà đi, chiều xe cấp cứu đỗ trước cửa. Vợ chồng thằng Hưng ép ông Thiện lăn tay điểm chỉ bán nhà 32 tỷ rồi xách vali sang Mỹ. Chúng tống ông cụ vào viện dưỡng lão tư nhân tận Ba Vì, đóng tiền một năm, dặn chết thì hỏa thiêu, không thấy quay lại.” Tôi lên xe khách tuyến Ba Vì, thuê xe ôm sục sạo khắp vùng. Ngày thứ ba, tôi tìm thấy cơ sở chăm sóc người cao tuổi Tình Thương – dãy nhà cấp bốn lợp tôn gỉ, mùi xú uế nồng nặc. Hành lang tối tăm như hầm mộ. Phòng số 8 cuối dãy, sáu chiếc giường sắt hoen gỉ. Ở chiếc giường tận cùng góc, người đàn ông nằm ngửa trong bộ quần áo bệnh nhân rộng thùng thình. Chỉ mới năm ngày, ông tiều tụy đến không nhận ra. Khuôn mặt hốc hác, gò má nhô cao, tóc bết thành vệt cứng. Mép miệng khô nứt rỉ máu. Cổ tay phải – cánh tay duy nhất còn cử động – bị buộc chặt vào thành giường bằng dải vải rách. Một tay liệt, một tay bị trói. Ông nằm bất động như cái xác khô.
Tôi đứng sát mép giường, tay run chạm vào gò má xám xịt. Làn da lạnh ngắt. Tôi gọi tên ông. Hàng mi thưa thớt rung lên, ông từ từ hé mắt đục ngầu. Nhìn tôi, mất mười giây, ông mới nhận ra. Khuôn mặt méo sạch co giật, nước mắt trào ra. Ông há miệng cố nói nhưng cổ họng khô khốc, chỉ tiếng khò khè. Tôi lấy cốc nhựa múc nước đút cho ông. Ông nuốt ực, giọng thều thào: “Bà Mai… sao bà lại ở đây? Tôi đã dặn bà cầm tiền về quê…” “Tôi không thể bỏ ông.” Tôi cúi xuống tháo sợi dây trói cổ tay ông, cổ tay đã hằn vết đỏ tứa máu. Tôi xoa bóp nhè nhẹ cho ông.
Ông kể bốn ngày nay ông không ăn, bọn y tá nhét cháo ông nhổ ra, chúng bực mình lấy dây trói tay. “Chúng nó cầm tay tôi ấn mực đỏ đóng xuống giấy bán nhà. Cảm giác đó đau hơn cả nhồi máu cơ tim. Bà Mai, tôi nuôi nó ăn học, cuối cùng nó tống tôi vào nhà xác trần gian này.” Tôi không an ủi. Tôi cởi lớp áo khoác, lấy từ bụng ra cuốn sổ tiết kiệm, đặt lên ngực ông: “Một tỷ của ông vẫn còn nguyên. Tôi không thiếu tiền đến mức ôm tiền của ông mà dưỡng già. Tôi mang nó đến để chuộc ông ra khỏi địa ngục này. Căn nhà ông bán rồi, con cái ông bỏ ông đi biệt. Vậy thì ông theo tôi về quê. Nhà tôi dột nát nhưng có tình người. Một tỷ này tôi dùng trả tiền đền bù hợp đồng với viện dưỡng lão, phần còn lại sửa nhà, mua thuốc nuôi ông. Ông có bằng lòng theo tôi về người mùi khói dạ quê không?”
Ông Thiện lặng người, môi mấp máy. Một người đàn ông cả đời kiêu hãnh, nay rơi nước mắt trước lời đề nghị cưu mang của người từng làm ở xin cho mình. Ông dùng tay phải chới với nắm lấy vạt áo tôi, gật đầu liên tục. Tôi ra gặp gã giám đốc trung tâm. Hắn bảo chỉ có con trai ông mới có quyền đón ông ra, tôi không có giấy tờ. Tôi đặt 15 triệu xuống bàn: “Vợ chồng cậu Hưng bán nhà trốn nợ sang Mỹ rồi. Ông cụ đang chờ chết ở đây. Ông làm giấy cam kết để tôi đón người nhà về. Trung tâm vừa bớt gánh nặng, vừa hưởng trọn số tiền đã đóng, lại có thêm khoản này. Các người chẳng mất gì.” Hắn nhìn sấp tiền, tặc lưỡi, kéo vào ngăn kéo, đưa tờ cam kết. Tôi ký tên lăn tay. Giấy xuất viện được cấp ngay.
Tôi thuê xe cứu thương tư nhân chở ông từ Ba Vì về Thái Bình. Tôi tự tay thay cho ông bộ quần áo sạch, người ta cáng ông lên xe. Nhìn cổng sắt của trại dưỡng lão lùi dần, lồng ngực tôi nhẹ bẫng. Chiếc xe băng qua đồi núi, tiến về đồng bằng. Khi xe đỗ trước cổng nhà tôi, tôi nhờ mấy cậu thanh niên khiêng ông vào, đặt lên chiếc sập gụ đã lót sẵn đệm bông. Mùi ẩm mốc của căn nhà dột nát bị lấn át bởi hơi ấm tình người.
Tôi gọi điện cho con gái Thắm trong Nam, kể hết mọi chuyện. Đầu dây bên kia im lặng, rồi giọng nó vang lên ấm áp: “Mẹ làm đúng rồi. Nhà mình nghèo vật chất chứ không nghèo đạo lý.” Con gái tôi làm công nhân cạo mủ cao su, chật vật từng đồng, nhưng tâm nó sáng hơn những kẻ nhà lầu xe hơi kia. Những tháng sau đó, tôi rút tiền từ sổ tiết kiệm sửa lại mái nhà, phá bậc cửa cao xây đường dốc cho xe lăn, sắm cho ông chiếc xe lăn mới tinh. Buổi sáng, tôi đẩy xe lăn đưa ông ra hiên phơi nắng. Buổi trưa, mâm cơm quê đạm bạc có canh cua rau đay, cá đồng kho tiêu. Ông ăn hai bát ngon lành. Buổi chiều, tôi lại pha trà, ông nhấp ngụm, nở nụ cười hiền từ. Ông đã sống lại cuộc đời thứ hai.
Vợ chồng Hưng và Liên nhận quả báo. Số tiền 32 tỷ bán nhà, chúng trả nợ giang hồ 25 tỷ, còn 7 tỷ ôm sang Mỹ. Nhưng đất khách quê người, bằng cấp không dùng được, tiền tiêu nhanh chóng. Thằng Hưng lại dính cờ bạc chui, nợ nần, bị cảnh sát Mỹ bắt vì lừa đảo. Liên phải đi rửa bát thuê, cọ toilet kiếm tiền nuôi con. Chúng sống chui rúc, nơm nớp lo sợ bị trục xuất. Cái giá của lòng tham và bất hiếu đã gõ cửa. Chúng lấy của cha mình căn nhà, nhưng đánh mất cả cuộc đời và tư cách làm người.
Bốn năm trôi qua. Ông Thiện giờ 82 tuổi, trí nhớ lụi tàn, có ngày ngồi ngẩn ngơ nhìn ra sân. Nhưng ông không bao giờ quên tôi là ai. Mỗi đêm, khi tôi xoa bóp đôi chân teo tóp cho ông, ông đều thều thào: “Cảm ơn bà.” Tôi chỉ cười mỉm. Hạnh phúc tuổi già không nằm ở căn nhà mặt phố mấy chục tỷ, cũng không phải giấu một tỷ dưới đáy hòm. Nó là mỗi sáng thức dậy thấy lòng thanh thản, có người bạn già để pha cho nhau ấm trà, cùng kể câu chuyện rông dài. Ván cờ đời người, kẻ thắng người thua phân định bằng hai chữ tình và tâm. Những kẻ bất hiếu đã mất tất cả. Còn tôi, người đàn bà từng bị sỉ nhục, đã tìm thấy bình yên trong căn nhà ngói dột nát, bên người tri kỷ mà mình đã dùng cả một tỷ đồng để cứu khỏi địa ngục.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!