-Tham Giàu Lấy Chồng Việt Kiều Lớn Tuổi, Cô Gái sốc Lặng Khi Bước Vào Căn Nhà Sau Đám Cưới………
Nhiều người nói tôi ngu thì tôi chịu, nói tôi tham tiền thì tôi nhận. Đời con gái miền Tây quê nghèo như tôi sinh ra ở cái xóm trại heo hút dưới miệt Cần Thơ, mở mắt ra là thấy nợ nần, nhắm mắt lại là thấy ba má còng lưng gánh trái cây đi bán dạo. Tôi tự nhủ: bằng mọi giá phải lấy chồng Việt kiều, phải đi Mỹ đổi đời.
Tôi làm ở vựa trái cây trên chợ nổi. Một hôm có đoàn Việt kiều ghé mua đồ. Tôi để ý thấy một ông già, lớn tuổi lắm rồi, hơn tôi chắc cũng hai mươi tuổi. Tóc hói, da nhăn, nhưng tay đeo Rolex, dây chuyền vàng to bằng ngón tay cái. Tôi nhìn vô là biết ngay: đây là phao cứu sinh của đời tôi.
Ông tên Hùng, bảo làm chủ thầu xây dựng bên Cali. Ông xin số điện thoại, ngày nào cũng từ Sài Gòn xuống Cần Thơ tìm tôi. Quen hai tuần, ông nói tới chuyện cưới xin. Tôi nghĩ: ông già vầy thèm vợ trẻ, mình thèm thẻ xanh, coi như giao dịch công bằng.
Nhưng tôi đâu ngờ đó là bản án tử hình cho cuộc đời tôi.
Một cô Việt kiều trong đoàn kéo tôi ra chỗ vắng cảnh báo: “Thằng Hùng đó đã qua bốn đời vợ rồi, ly dị sạch trơn. Đàn ông ly dị ba bốn lần mà toàn vợ bỏ chạy thì chắc chắn có vấn đề nhân cách. Cô ở gần nhà nó, biết rõ mấy đời vợ trước sống khổ sở thế nào.”
Tôi nghe mà tim đập thình thịch. Nhưng cái nghèo đáng sợ hơn cái ác. Nhìn ba má nằm trong nhà lá dột, tôi tự nhủ: mình biết nhẫn nhịn, biết an phận. Cái suy nghĩ nông cạn đó đã đánh gục lý trí của tôi.
Đám cưới diễn ra ba tháng sau. Ông keo kiệt tới mức không tưởng: tiền thách cưới đúng 20 triệu, không xe hoa, không tuần trăng mật, áo dài cưới mướn ở tiệm rẻ nhất. Đến lúc thanh toán tiệc, dư hai mâm, ông đứng giữa rạp chửi ba má tôi. Đó là cái tát vô hình đầu tiên.
Hai năm chờ giấy tờ, ông chỉ gửi về 300 đô. Rồi tôi cầm visa đỏ trên tay, bay sang Mỹ. Xuống sân bay California, ông đón tôi bằng câu đầu tiên: “Mày mang ít đồ thôi, xách vali bự tốn xăng.” Không bông, không hoa, không một cái ôm.
Căn nhà ông ở là cấp bốn gỗ ván ép, tường bong chóc, đồ đạc ngổn ngang, sofa rách bươm. Ông bảo: “Từ ngày mai việc mày là lau chùi, giặt rũ. Tắm 5 phút, máy sưởi không bật, cấm nấu nướng bày vẽ.”
Sáng hôm sau, ông giữ hộ chiếu, giấy tờ và thẻ xanh của tôi. Tôi ngây thơ đưa, đâu biết ông đang tước đoạt tự do của tôi.
Sống chung vài tuần, tôi mới biết ông chỉ là thằng làm chui, rửa chén bưng phở ở nhà hàng người Hoa. Sự keo kiệt của ông ở mức bệnh hoạn: giấy vệ sinh phải đếm tờ, xài xong còn sạch phơi khô xài lại. Có bữa tôi bỏ miếng thịt hôi, ông moi thùng rác lên tát tôi: “Đồ phá của.” Bắt tôi nhặt lên rửa muối luộc cho ông ăn.
Ông nhốt tôi trong nhà bốn tháng, cấm tiếp xúc ai. Ông bắt tôi nấu cơm cho ba má ông, rồi thu tiền hai ông bà già 300 đô một tháng “công nấu nướng”. Má chồng rưng rưng đưa tiền cho tôi: “Con cầm mua quần áo, đừng cho nó biết.”
Tôi sốc muốn rớt trái tim. Rồi ông bắt tôi chích thuốc ngừa thai, không cho sinh con vì “tốn kém”. Tôi sống như cái bóng, không một xu dính túi.
Tôi xin đi làm để gửi tiền về quê. Ông đồng ý, nhưng bắt tôi làm ở nhà hàng ông chỉ định, lãnh lương đưa hết. Tháng đầu 2000 đô, ông thu sạch, chỉ chừa 300 đô bắt gửi về. Tháng sau, ông nói hai ba tháng mới gửi một lần, mỗi lần 200-300.
Tôi lén tìm hiểu quá khứ ông. Hóa ra ông có ……………………
Mời quý đọc giả đọc PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 


bốn đời vợ, bốn đứa con, nhưng ly dị xong ông trốn nghĩa vụ cấp dưỡng bằng cách đi làm chui nhận tiền mặt. Ba má ông phải trích lương hưu gửi cho các cháu.
Rồi ba tôi phát hiện ung thư gan. Má gọi điện khóc: “Khối u bự lắm, phải mổ hóa trị gấp.” Tôi quỳ van xin ông: “Tiền lương em anh giữ cả năm hơn 20.000 đô, anh cho em xin 5000 gửi về cứu ba.” Ông mặt biến sắc: “Ung thư thì trước sau cũng chết, đổ tiền vô làm gì cho phí phạm. Tao không có 5000.”
Tôi gào khóc đập đầu xuống sàn. Cuối cùng ông ném cho tôi vé máy bay khứ hồi và 2000 đô, bảo ba tuần phải về trả nợ.
2000 đô với bệnh ung thư như muối bỏ bể. Về Việt Nam nhìn ba thoi thóp, tôi khóc cạn nước mắt. Tiền hết, tôi gọi xin thêm, ông chửi tôi lừa đảo, cúp máy chặn số.
Đứng giữa hành lang bệnh viện, tôi nhận ra mình đã bán rẻ thanh xuân, cuối cùng trở thành đứa con bất hiếu. Nỗi đau đó nhen nhóm ngọn lửa quyết tâm vùng lên.
Về Mỹ, ông chở tôi đi làm lại, câu đầu tiên: “Về rồi hả? Mai mốt đi làm, nghỉ ba tuần mất mấy ngàn bạc.” Tối đó tôi nói thẳng: “Từ tháng này lương 2000, em chỉ đưa anh 1000. 1000 còn lại em gửi về cho ba.”
Ông nổi điên: “Mày điên rồi. 1000 đô, một cắc tao cũng không nhả. Mày mà còn sót ông già mày thì cút về Việt Nam. Tao cắt thẻ xanh, báo di chú trục xuất mày.”
Tôi gào lên: “Cùng lắm em ly dị!” Ông tát tôi, tôi đập đầu vào bàn ngã quỵ. Ông túm tóc tôi: “Mày dám ly dị tao hả?”
Đêm đó nằm trên sofa rách, sờ vệt máu khô, tôi thề sẽ không cam chịu nữa.
Tôi bắt đầu lén làm thêm, thỏa thuận với bà chủ người Hoa giữ riêng 1000 đô mỗi tháng. Mấy tháng trôi qua, tiền gửi về cứu ba đều đặn. Nhưng một sơ suất làm đổ bể: con trai bà chủ phát lương đưa thẳng 3000 đô vào tay tôi. Ông Hùng đứng chờ ở cửa, giật bao thư, đếm thấy 3000 thay vì 2000. Về nhà ông đập phá, chửi tôi ăn cắp.
Bệnh ba tôi tái phát dữ dội, má gọi: “Trang ơi, cứu ba, ổng đau quá.” Tôi đánh liều gọi ba má chồng sang, đưa hồ sơ bệnh án, khóc lóc van xin. Ông Hùng nhếch mép: “Tích đức cái gì? Đã ung thư giai đoạn cuối thì chết sớm cho đỡ tốn tiền.”
Câu nói đó giết chết mọi ảo mộng cuối cùng của tôi.
Ba má chồng lén đưa tôi 2000 đô và nói: chị hai của ông Hùng sẵn sàng cưu mang. Nếu tôi ly dị, chị sẽ cho ở nhờ, xin việc hãng xưởng đàng hoàng, lương 3000 đô tôi cầm trọn. Má chồng bảo: “Thẻ xanh của con là thẻ 10 năm, chính phủ cấp rồi. Nó lấy quyền gì đòi trục xuất? Đừng sợ lời dọa nạt rẻ tiền. Giải thoát cho mình đi con.”
Tôi thức trắng đêm. Sáng hôm sau tôi gọi taxi đến luật sư, ký đơn ly hôn. Tòa gửi thông báo, ông Hùng quỳ xuống nước mắt cá sấu: “Anh sai rồi. Em đừng ly dị. Từ nay lương 3000, anh đưa em một nửa 1500.”
Tôi nhìn ông, thấy sự hèn hạ của kẻ sắp mất cỗ máy in tiền. Tôi đã đưa ra phán quyết cuối cùng.
Sáng hôm sau, tôi gấp gọn vài bộ quần áo, cất kỹ thẻ xanh và lá đơn ly hôn, bước ra khỏi căn nhà ẩm thấp đó, không ngoái đầu nhìn lại. Tôi dọn đến nhà chị hai, đi làm hãng xưởng đàng hoàng. Mỗi tháng tôi gửi về cho ba tiền hóa chất, ba sống thêm được hai năm.
Tôi không còn là con Trang cam chịu ngày xưa. Tôi là người phụ nữ dám đứng lên, dám ly dị, dám tự làm chủ vận mệnh. Giờ nhìn lại, tôi thương cho cô gái miền Tây ngây thơ ngày nào, nhưng tôi tự hào vì đã dũng cảm bước ra khỏi cái bẫy đó.




