Bắt Gặp Bố Chồng Cũ Ăn Xin Giữa Trời Mưa,Tôi Cho Ông 6 Triệu Rồi Lặng Lẽ Đi Theo… Vừa Mở Cửa, Tôi Chết Lặng

Tôi là Lê Thị Như Ý, 34 tuổi, ly hôn được gần 4 năm. Tôi làm kế toán cho một cửa hàng vật liệu xây dựng ở Nam Định. Ngày nào cũng chìm trong hóa đơn, phiếu thu chi, công việc khô khan nhưng ít ra giấy tờ còn trung thực hơn con người. Chồng cũ tôi là Trần Quốc Duy, hơn tôi hai tuổi, làm kỹ sư điện lạnh. Anh không rượu chè, không cờ bạc. Hồi mới cưới, anh thương tôi theo cách lặng lẽ. Mưa thì dúi áo mưa vào tay, tôi sốt thì anh lóc cháo dù đặc quánh. Tôi từng nghĩ mình lấy đúng người. Nhưng hôn nhân không chỉ có hai người.
Bố chồng tôi, ông Trần Văn Thành, từng làm tổ trưởng tổ dân phố, thích ngồi đầu mâm, giọng oang oang. Từ ngày tôi về làm dâu, ông đã không ưng vì nhà tôi không giàu có. Một buổi tối, tôi vô tình nghe ông nói với Duy: “Đàn ông lấy vợ phải nhìn nhà vợ. Vợ hiền là một chuyện, nhưng có giúp chồng nở mày nở mặt được không mới là chuyện khác.” Tôi đứng sau cánh cửa bếp, tay cầm đôi đũa, sống lưng lạnh toát.
Mỗi bữa cơm là một lần kiểm tra. Canh nhạt, ông bảo thằng Duy làm cả ngày về ăn thế này lấy sức đâu. Tôi mua cái váy mới, ông bảo con gái lấy chồng rồi phải biết tiết kiệm. Tôi gửi hai triệu về cho mẹ vì bố đau lưng, ông bảo con gái lấy chồng phải biết vun vén nhà chồng trước. Tối đó tôi hỏi Duy: “Anh nghe bố nói không?” Anh thở dài: “Em nhịn bố một chút.” Năm chữ ấy sau này tôi nghe thuộc lòng. Tôi hỏi lại: “Nếu ai cũng bảo em nhịn, vậy ai nhịn cho em?” Anh im lặng, chỉ nắm tay tôi mà không trả lời.
Rồi áp lực về con cái bắt đầu. Cưới hai năm, câu “có tin vui chưa” dần thành tiếng thở dài và ánh mắt soi mói. Một tối, ông Thành buông đũa: “Nhà có con dâu mà lạnh tanh như đình làng tháng chạp. Cơm canh đủ cả, chỉ thiếu tiếng trẻ con.” Tôi cố giữ giọng: “Chuyện con cái cũng phải tùy duyên bố ạ.” Ông gằn: “Tùy duyên là lời của người không sốt ruột.”
Đỉnh điểm là đám giỗ họ Trần. Tôi dậy từ sáng sớm phụ làm cỗ, mồ hôi ướt đẫm lưng, tay băm hành tê rần. Bà Luyến hỏi: “Con Ý đi khám chưa?” Tôi đáp sơ sơ. Bà lắc đầu: “Sơ sơ thì ăn thua gì, phụ nữ phải kỹ.” Mấy người xung quanh xúi nhau góp lời, thành một gánh nặng đè lên đầu tôi. Đến bữa, ông Thành say rượu, mặt đỏ gay: “Nhớ thằng Duy lấy người khác, giờ chắc tôi đã có cháu nội chạy quanh sân.” Cả sân im bặt. Tôi nhìn Duy, chỉ cần anh nói một câu bênh vực. Nhưng anh cúi đầu. Tối đó tôi hỏi: “Anh chỉ thấy bố nói quá thôi à?” Anh đáp: “Em muốn anh cãi bố trước mặt cả họ sao?” Tôi nhìn anh đau đớn: “Em chỉ muốn anh là chồng em. Mỗi lần em bị nói không biết đẻ, em không xứng đáng, anh đều im thin thít. Anh thương em kiểu gì mà lúc em bị sát muối, anh chỉ đứng cạnh cầm lọ nước mắm?”
Mấy tháng sau, ông Thành nhắc đến Võ Thị Kim Ngân. Cô ta ngoài 30, ăn mặc chỉn chu, giọng ngọt như đường. Tôi pha trà trong bếp, nghe rõ từng lời cô ta nói: “Phụ nữ quan trọng nhất là giữ gìn gia đình. Có phúc làm vợ làm mẹ thì phải vun vén cho bếp lửa ấm, chứ nhà rộng mấy mà thiếu tiếng trẻ con thì cũng lạnh lẽo.” Câu nói như gai bọc nhung. Tối đó Duy bảo tôi nghĩ nhiều. Rồi ông Thành giục tôi đi khám. Tôi tự đi. Bác sĩ bảo chưa thấy bất thường ở tôi, phải khám cả hai vợ chồng. Tôi đưa kết quả cho Duy, anh bảo sẽ sắp xếp. Tôi hỏi sắp xếp đến bao giờ, anh né tránh: “Anh bận.”
Đêm cuối cùng, tôi đặt đơn ly hôn lên bàn. Duy về thấy mặt tái mét. Tôi nói: “Em trả lại anh sự yên ổn.” Anh cầm tờ đơn: “Anh vẫn thương em.” Tôi nhìn anh: “Anh thương em bằng sự im lặng, em đau trong những lời người ta nói. Không cân nổi nữa.” Ngày tôi kéo vali rời đi, ông Thành đứng ngoài hiên lạnh lùng: “Đi được thì đừng quay về.” Tôi quay lại: “Dạ, con nhớ.” Duy đứng sau, mắt đỏ hoe nhưng tôi không ngoảnh đầu.
Bốn năm sau, sáng 26 tháng Chạp, trời rét buốt, mưa bụi bay. Tôi ghé chợ Rồng mua cá. Bỗng phía sau vang lên giọng đàn ông khản đặc: “Cô ơi, cho tôi xin mấy nghìn mua cháo, tôi đói quá.” Tôi quay lại, tay khựng giữa không trung. Người đàn ông nép bên cột chợ, lưng còng, áo rách sờn, trước mặt là chiếc nón lá cũ với vài đồng lẻ. Đó là ông Trần Văn Thành.
Tôi cúi xuống: “Bác đứng dậy đi, cháu đưa bác vào ăn gì nóng.” Ông lắc đầu. Tôi đỡ ông dậy, ông né tránh như sợ chạm vào quá khứ. Vào quán cháo, tôi gọi bát nóng hổi. Ông cầm thìa run run, ăn vội vàng như bị bỏ đói nhiều ngày. Tôi nhìn ông mà chẳng thấy vui mừng trả thù. Hóa ra thù hận tưởng cứng rắn, khi chạm vào cảnh người cùng đường lại mềm ra theo cách không ngờ.
Tôi đưa ông sáu triệu. Ông đẩy lại. Tôi bảo: “Sĩ diện không nấu thành cháo được đâu bác.” Ông nhận tiền, nước mắt rơi lã chã. Tôi hỏi Duy giờ ở đâu. Ông nghẹn ngào: “Nó bệnh nặng lắm.” Tôi lặng lẽ theo ông về nhà. Cánh cổng sắt rỉ sét, cây khế trụi lá, vườn hoang tàn. Trong nhà tối om, mùi thuốc thang lẫn mùi ẩm mốc. Duy nằm trên giường, gầy guộc chỉ còn da bọc xương, gò má hóp sâu, tóc rụng lưa thưa. Anh mở mắt, nhận ra tôi, nước mắt trào ra: “Ý…”
Ông Thành kể hết. Ung thư hạch, hơn một năm nay. Kim Ngân bảo có thuốc tốt, bác sĩ giỏi. Ông tin, bán sạch đồ đạc, vay tới 690 triệu. Giờ cô ta biến mất, nhà trống, Duy nằm đây chờ chết. Tôi nhìn căn bếp từng góp 86 triệu sửa chữa, giờ han rỉ, bát đũa vứt bừa bãi. Tôi bấm điện thoại gọi xe, đưa Duy vào viện. Ông Thành lo không có tiền. Tôi nói: “Mạng anh ấy quan trọng hơn mặt mũi của bác.”
Tại bệnh viện, bác sĩ Sơn xem giấy tờ cũ, cau mày: “Phiếu này không đúng mẫu, thuốc không nằm trong phác đồ chuẩn.” Tôi về nhà cũ lục giấy tờ, tìm thấy phong bì màu vàng trong ngăn kéo của Duy. Giấy khám nam khoa bốn năm trước, kết luận rõ ràng:…………………….
BẠN ĐỌC TIẾP CÂU CHUYỆN TẠI ĐÂY👇👇
https://fleuri.info/23183/

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!