Tôi cúi xuống bên bãi rác ven đường thì thấy nửa mặt dây chuyền hình bông lúa đã xỉn màu lăn ra từ lòng bàn tay cô gái. Toàn thân tôi lạnh ngắt. Hai mươi năm trước, em gái tôi mất tích khi bảy tuổi cũng đeo đúng nửa kia. Tôi hỏi tên cô. Cô bảo mình là Thảo, không nhớ bố mẹ, không nhớ quê. Nhưng khi tôi nhắc tới căn nhà có cây khế, cô co rúm người: “Đừng đưa tôi về đó.”
Tôi tên Đức Hiếu, ba mươi sáu tuổi, công an. Hạ kém tôi chín tuổi. Chiều tháng tám năm ấy, mẹ bán hàng, bố sửa máy bơm, tôi đá bóng. Hạ xin đi với người họ hàng ra chợ mua vở và dây buộc tóc. Đến tối không về. Cả làng tìm đến nửa đêm. Từ hôm đó, mẹ để đèn ngoài hiên suốt nhiều năm. Căn phòng của Hạ gần như không thay đổi: chiếc váy hoa bảy tuổi, con lật đật bạc màu. Tôi vào ngành công an một phần vì em.
Chiều hôm ấy trời oi. Tôi chạy xe về thì thấy người nằm co bên đống bao tải. Cô gái gầy đến chỉ còn da bọc xương, quần áo bẩn, túi nilon đựng chai nhựa. Tôi gọi hỗ trợ y tế. Khi chỉnh đầu cô cho dễ thở, mái tóc hất lên lộ vết sẹo cong sau tai trái – đúng vết bỏng năm Hạ năm tuổi vì trượt chân vào thành bếp nóng. Tôi ngồi bất động. Rồi bàn tay cô rơi, nửa bông lúa bạc lăn ra. Bố từng đặt làm hai nửa cho anh em tôi. Khi ghép lại thành một bông lúa hoàn chỉnh. Nửa của Hạ mất cùng em.
Tại bệnh viện, cô tỉnh. Ánh mắt sợ hãi. Tôi hỏi tên. “Thảo.” Quê đâu? Lắc đầu. Bố mẹ? Lắc đầu. Tôi đặt nửa dây chuyền lên bàn. Cô rụt người, thở gấp: “Không được hỏi cái đó. Nói ra người ta sẽ tìm thấy.” Tôi hỏi ai. Cô ôm đầu: “Không biết.” Sau đó cô nói ký ức sớm nhất là căn phòng tối, người đàn bà bảo từ nay tên là Thảo, không được nhắc tên cũ. Cha mẹ đã bán vì nhà nghèo. Cô từng bỏ chạy nhưng bị bắt lại, bị dọa nếu tìm về thì người nhà cũ sẽ gặp chuyện. Cô nhớ sân có cây nhiều quả nhỏ chua, nhớ bàn tay mẹ có mùi nghệ, nhớ người anh trai từng cõng qua đoạn đường ngập nước.
Tôi lạnh sống lưng. Nhà tôi có cây khế. Mẹ hay thái khế nấu canh. Năm Hạ sáu tuổi mưa lớn, tôi cõng em gần một cây số, em làm rơi dép đỏ, tôi chạy ngược lại tìm. Khi về, em đưa nửa củ khoai luộc để dành cho anh. Cô không nhận ra tôi. Tôi hỏi nếu gặp lại người anh ấy, cô có nhận ra không. “Không, tôi không nhớ mặt.”
Đêm đó tôi về nhà bố mẹ. Trong hộp gỗ mẹ cất đồ của Hạ, tôi lấy nửa dây chuyền của mình. Hai mảnh ghép khít, vết xước năm xưa nối liền. Mẹ tỉnh dậy, nhìn bông lúa, môi run: “Hiếu, cái này ở đâu?” Tôi kể. Mẹ đòi đi ngay. Tôi giữ lại vì Thảo đang hoảng sợ. Bố đứng im ở cửa, ánh mắt né tránh.
Sáng hôm sau bác sĩ xác nhận vết sẹo phù hợp hồ sơ cũ. Kết quả huyết thống gần như khẳng định. Tôi gọi mẹ: “Là Hạ mẹ ạ.” Mẹ ngồi thụp xuống. Khi bố mẹ đến, tôi nói với Hạ: “Bố mẹ của người con gái tên Hạ chính là bố mẹ ruột của em. Anh là anh trai em.” Hạ nhìn tôi rất lâu, không khóc, không vui. Mẹ đứng cách ba mét gọi “Hạ”. Hạ nhìn mái tóc bạc, hai bàn tay nổi gân. Mẹ ngồi xuống: “Mẹ ngồi đây thôi, con không cần lại gần.” Hạ hỏi: “Bà có hay gội đầu bằng bồ kết không?” Mẹ khóc: “Có.” Hạ khóc theo: “Tôi nhớ mùi đó.” Bố đứng ở cửa nói câu đầu tiên sau hai mươi năm: “Bố xin lỗi.”
Hạ kể về bà Sen. Căn nhà mái tôn, bà bảo cha mẹ bán em. Chín tuổi nhặt ve chai, mười ba bán vé số. Có lần bà Sen uống rượu nói: “Tao không bắt mày. Người nhà mày đưa mày tới.” Một người đàn ông thỉnh thoảng đến, đeo nhẫn vàng mặt vuông, miết ngón cái vào nhẫn. Hạ nhớ ông ta từng đứng trong sân nhà có cây khế.
Tôi nhớ chú Khánh, em ruột bố, hay đeo đúng chiếc nhẫn ấy. Hạ nhớ thêm: hôm bị đưa đi, ngồi giữa xe máy, người quen mua kẹo lạc, dặn ngồi yên. Xe chạy mãi. Em khóc đòi về. Người đàn ông gọi bố là “anh”, nói “Anh về đi, để em lo.” Sau này ông ta gọi em là “chú”.
Tôi về hỏi bố. “Ngày Hạ mất, chú Khánh có ở đây không?” “Có.” “Chú ấy có đi cùng Hạ không?” Im lặng. “Bố nói đi.” “Hôm đó Khánh bảo đưa Hạ ra chợ.” Tôi hỏi vì sao không nói rõ. Bố kể từng nghi sau hơn một tháng, thấy chiếc nơ buộc tóc xanh trong túi chú. Ông nội bệnh, bà nội van xin đừng làm anh em trở mặt. Tôi gặp ông Tấn, hàng xóm cũ của chú. Ông nhớ tối Hạ mất, thấy chú đưa bé gái về khu trọ, con bé khóc hỏi bao giờ về với mẹ. Sau đó một người đàn bà tóc búi nhận em lên xe. Vài ngày sau chủ nợ không đến nữa.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Tôi tìm bà Sen. Bà già yếu trên giường. Nghe tên tôi, bà khóc: “Nó còn sống à?” Bà kể nhận tiền giữ trẻ tạm. Người đưa đến đeo nhẫn vàng mặt vuông, nói là chú ruột, gia đình khó khăn đồng ý cho nuôi. Hạ khóc đòi mẹ, đòi anh Hiếu. Bà đặt tên Thảo vì nhớ con gái đã mất. Bà nói dối cha mẹ bán em để em hết mong. Vài năm sau Khánh đến, đưa thêm tiền, dặn làm cho quên quê. Trước khi mất bà nói: “Nếu người nhà tìm được mày đừng tin ngay cũng đừng hận ngay.”
Bố đưa tôi phong bì cũ. Lá thư ông viết cho chú Khánh ba tháng sau ngày mất tích: nghi ngờ vì chú là người cuối cùng, vì chiếc nơ, vì khoản nợ biến mất. Ông từng xin chú trả Hạ về, sẽ coi như chưa biết. Bà nội quỳ xin đừng báo khi chưa có bằng chứng. Bố còn tìm thấy chiếc dép đỏ của Hạ dưới ghế xe chú – đúng đôi có quai được ghim bằng dây thép. Ông định giữ làm bằng chứng. Sáng ra dép biến mất. Bà nội đã lấy và đốt.
Chúng tôi đối chất chú Khánh. Hạ hỏi: “Chú từng đưa cháu đi phải không?” Chú phủ nhận. Hạ nói: “Tối hôm đó chú cúi xuống bảo nếu Hạ ngoan thì chú mua con lật đật màu đỏ. Không về thì chú giữ đến khi nào ngoan mới trả.” Chú cứng người. Con lật đật ấy vẫn trên nóc tủ phòng Hạ. Chú gục đầu thú nhận: nợ đỏ đen, giao Hạ lấy tiền trả nợ, định sau sẽ đón về nhưng sợ lộ. Hạ nhìn ông: “Nếu thương mà vẫn đem cháu đổi lấy tiền thì cái thương ấy để làm gì?”
Trong sổ tay bà nội để lại có dòng chữ năm ấy: “Thằng Khánh sang quỳ khóc, nói đã lỡ đưa con bé lấy tiền trả nợ. Nó xin tôi đừng để anh nó đưa chuyện ra ngoài.” Bà viết: “Nếu chuyện bung ra, Khánh vào tù thì đời nó hết. Hạ còn nhỏ, nếu người ta nuôi tử tế thì sau này còn đường về.” Bà đã lấy chiếc dép và đốt.
Hạ đứng trước bàn thờ bà nội: “Nếu ngày đó bà nói thật, có lẽ cháu đã không phải chờ lâu đến vậy.” Mẹ nắm tay Hạ: “Con có quyền giận tất cả.” Hạ nói: “Con giận, nhưng con không muốn sống nốt phần đời còn lại chỉ để giận.”
Những tháng sau Hạ ở lại nhà. Em vẫn để túi hành lý cạnh giường. Mẹ học cách không ép ăn. Bố không xin tha thứ vội. Một tối rất bình thường, Hạ đi làm về, bước vào bếp: “Mẹ ơi, con tự lấy được rồi.” Căn nhà im bặt. Mẹ hỏi: “Con vừa gọi mẹ à?” Hạ gật. Mẹ hỏi: “Mẹ ôm con được không?” Hạ gật. Hai người ôm nhau khóc.
Tôi đứng dưới cây khế với Hạ. Em hỏi mọi chuyện đã kết thúc chưa. Tôi lắc đầu: “Tìm được người mất tích chỉ là tìm được họ đang ở đâu. Để họ thật sự trở về còn lâu hơn nhiều.” Hạ nhìn căn nhà, đèn hiên vẫn sáng: “Trước em nghĩ nhà là nơi mình sinh ra. Bây giờ chắc nhà là nơi mình không cần sợ ngày mai người ta bảo mình đi.”
Đêm ấy tôi ra về. Hạ đứng cạnh mẹ ngoài cổng. Cây khế phía sau già hơn, xù xì hơn, nhưng vẫn còn xanh. Tôi nghĩ những vết thương không bao giờ biến mất hoàn toàn. Chỉ có thể học cách sống với chúng dưới ánh đèn mà người mẹ đã để sáng suốt hai mươi năm, chờ một đứa con biết đường trở về.





