Bị Cả Làng Ch/ửi Là “Thằ/ng Đ/ổ V/ỏ”, Tôi Cưới Cô Gái Có Chửa — Nào Ngờ ĐêmTân Hôn Cô Nói Một Câu Khiến Tôi Ch/ết Lặng
Tôi đứng trong căn buồng cưới tối om, ngọn đèn dầu lay nhẹ. Ngoài sân còn tiếng bát đĩa và tiếng cười men rượu. Hương ngồi mép giường, áo bông nâu, tóc tháo loạn. Tôi vừa đóng cửa đã không kìm được. “Cô vui chưa? Cả làng gọi tôi thằng đổ vỏ, thằng bán danh dự lấy nhà ngói. Cô đứng nhìn từ đầu đến cuối mà không nói một câu.”
Hương ngẩng lên. “Anh nói xong chưa?”
“Chưa. Tôi không muốn lấy cô. Tôi chưa từng nghĩ mình phải cưới người đang mang con của kẻ khác. Tôi đồng ý chỉ vì mẹ tôi cần thuốc.”
Cô đứng dậy, bước tới trước mặt tôi. “Anh thật sự nghĩ trong bụng tôi có một đứa trẻ?” Rồi nắm cổ tay tôi, kéo bàn tay đặt thẳng lên bụng. “Cứ sờ đi.”
Dưới lòng bàn tay tôi chỉ là lớp vải dày. Hương quay lưng, tháo dây áo, gỡ từng lớp khăn, mấy cuộn rẻ, tập giấy báo vò mềm. Bụng nhô biến mất. Vòng eo bình thường. “Tôi không có thai. Người đàn ông trên tỉnh không có. Tôi chưa từng có người đàn ông nào như bố tôi nói.”
Tôi há miệng. “Cô lừa tôi?”
“Người lừa anh là bố tôi. Không, ông Bách không phải bố ruột tôi.”
Hương kể nhanh. Năm tuổi bố mẹ ruột mất trong lũ. Bà Nhàn vợ ông Bách nhận nuôi. Ba năm trước bà mất, căn nhà không còn ai đứng về phía cô. Ông Bách nuôi cô nhưng lúc nào cũng nhắc ơn. “Món nợ đáng sợ nhất là món nợ người ta không bao giờ cho mình trả hết.”
Cô mở hòm gỗ, lấy gói giấy. Tên tôi Trần Văn Đức. Dấu tay đỏ của tôi. Một bức di thư nhận tội vì ham tiền khiến công nhân gặp nạn rồi không còn mặt mũi sống. “Ông ấy không cưới tôi cho anh để anh làm con rể. Ông ấy đưa anh vào nhà này để chuẩn bị cho anh chết thay người khác.”
Tôi tên Trần Văn Đức, hai mươi lăm tuổi, xã Khe Trầm, Đông Triều, Quảng Ninh, năm 1987. Cha mất sớm. Mẹ tôi bà Sâm làm ruộng, đan sọt, nhặt củi nuôi tôi. Nhà nghèo, mẹ dạy: người thấp cổ bé họng gặp người có quyền thì nhịn. Tôi nhịn thành quen.
Mùa đông ấy mẹ ho ra máu. Trạm xá nói phải thuốc đều, không thì chuyển tuyến. Nhà hết gạo, hết gà. Tôi đưa mẹ về với vài liều ít ỏi. Chiều đi ngang nhà bác Quỳnh, thấy người ta đo lại đất vì bác từng cãi ông chủ nhiệm. Về nhà, Đỗ Văn Dậu đội trưởng bảo vệ đến gọi: “Ông chủ nhiệm Bách gọi mày lên.” Hắn nhắc nhẹ mảnh đất trồng ngô nhà tôi vẫn là đất hợp tác xã.
Nhà ông Bách năm gian ngói đỏ, sân gạch, bóng điện. Ông tự rót trà, hỏi bệnh mẹ, bảo Dậu lấy thuốc tốt cho bà Sâm. Rồi hỏi tôi hai mươi lăm tuổi, có người yêu chưa. “Bác muốn cháu cưới Hương. Nó có thai hơn bốn tháng, thằng kia bỏ đi. Cháu lấy nó, bác lo thuốc men cho mẹ, nợ nhà cháu giãn, mỗi tháng có phần gạo, sau này bố trí việc lâu dài.”
Tôi lắc đầu. Ông đặt chén trà xuống. “Mảnh đất sau bãi sim năm nay hợp tác xã giao tạm. Năm tới phải chia lại. Thuốc ở trạm cũng có hạn.” Tôi nhớ tiếng ho mẹ, nhớ chum gạo đã thấy đáy. “Dạ, cháu đồng ý.”
Sáng hôm sau cả xóm thì thầm. “Thằng Đức cưới con gái ông chủ nhiệm, con Hương đang có chửa.” Mẹ hỏi thật. Tôi cười gượng: “Người ta nói linh tinh thôi mẹ.” Ba ngày sau đăng ký, Hương lạnh như băng. Đám cưới hai mươi hai mâm. Phạm Văn Tỵ say, vỗ vai tôi nói to: “Cậu Đức sướng thật, cưới vợ nhà vợ lo hết.” Ông Bách ghé tai: “Thuốc của mẹ mày vẫn còn phải lấy tuần sau.” Tôi nuốt giận, rót rượu mời Tỵ.
Đêm ấy trong buồng, sau khi Hương tháo bụng giả và đưa giấy tờ, tôi mới hiểu. Khe đá mài sập mùng bốn, ba người mất tích. Hợp tác xã bảo bỏ trốn. Thực ra than dư chở đêm bán ngoài sổ. Ông Bách và Dậu cần người nhận tội. Tôi nghèo, hiền, không anh em cán bộ, mẹ bệnh, dễ điều khiển. Hai tuần trước tôi điểm chỉ nhận tám cân ngô cứu đói, không biết mình đã ký vào giấy sau này thành chứng cứ. Sau cưới họ sẽ đưa tôi lên mỏ, cho ký dụng cụ, bảng công, rồi dựng tôi tự t/ử bằng thu/ốc đ/ộc kèm di thư.
Hương biết vì lén nghe và lấy giấy trước đám cưới. Cô có thể bỏ trốn nhưng ở lại vì không muốn tôi ch/ết oan. “Từ giờ không ai chạy trước.” Chúng tôi nắm tay. Lần đầu đứng cùng một phía.
……………………………………………
X/EM TI/ẾP BÊ/N DƯ/ỚI
👇👇👇
Sáng hôm sau tôi chủ động xin theo Dậu lên khe đá mài. Gỗ chống nứt, công nhân nói nhỏ “đất chưa yên”. Tối có xe tải không biển chở than. Tôi đếm, lượng không khớp sổ. Về kể Hương. Chúng tôi diễn vợ chồng bất hòa trước người làm.
Tôi phát hiện Nguyễn Văn Khải, tổ phó ca được loan tin trộm đồ bỏ trốn, vẫn còn sống. Chị Thoa vợ anh bị Dậu ép ký giấy nhận chồng bỏ việc đổi bao gạo nhưng chị không ký. Tôi theo dấu cơm chị mang vào rừng, gặp Khải tại cửa thông khí. Anh kể: trước sập đã cảnh báo gỗ yếu, đất dịch, đề nghị dừng. Dậu bảo làm đúng tiến độ ông chủ nhiệm. Sau sập Dậu bịt nhánh hầm. Khải bò ra được, hai người kia kẹt. Cuốn sổ giao ca anh giấu trong hốc đá.
Chúng tôi chuyển Khải chỗ khác, lấy sổ. Đủ chứng minh có cảnh báo nhưng chưa nối trực tiếp ông Bách. Hương dùng chìa mẹ Nhàn mở két, lấy sổ xanh ghi chuyến than và tiền. Tôi nhận ra một ngày mưa lớn đường sạt, không xe nào chạy được mà sổ vẫn ghi ba chuyến – viết sau. Chúng tôi trả sổ, giấu tạm. Ông Bách về sớm, thay khóa. Trong két còn bản tường trình đổ hết tội cho Dậu.
Tôi cố tình để Dậu thấy bản ấy khi uống rượu. Hắn bắt đầu nghi. Nghe lỏm ông Bách nói “thằng Dậu biết nhiều quá… nếu có chuyện phải có người nhận phần”. Dậu tìm tôi: chỉ cứu mạng mình. Hắn thú nhận Tỵ say hôm cưới cũng do ông Bách sai, để thử xem tôi chịu nhục đến đâu.
Hương lên huyện rồi cắt đuôi lên tỉnh gặp cán bộ Phạm Quang Kính, mang bản chép và nói Khải còn sống. Tổ công tác bí mật gặp Khải, lấy sổ giao ca. Họ thả tin kiểm tra đột xuất. Ông Bách mang túi giả ra đồng thử. Chúng tôi mắc bẫy nhưng hiểu đồ thật vẫn trong nhà.
Hương nhớ gian thờ mẹ Nhàn bị khóa từ ngày bà mất, bức hoành phi từng bị ông Bách quát khi cô định chỉnh. Tổ công tác dặn không chạm. Tin kiểm tra lan rộng. Đêm ông Bách vào gian thờ, tháo hoành phi, mở tấm gỗ sau tường, lấy gói vải dầu. Hương đặt đèn tín hiệu. Chúng tôi và tổ công tác theo ông đến kho thóc bỏ hoang.
Dậu cũng tới. Hai người cãi. Dậu mang bản tường trình: “Tên ông sạch, tội tôi hết.” Hương bước vào: “Tôi biết ơn mẹ Nhàn. Ông nuôi tôi để sau này tôi phải trả. Tôi không phải món hàng. Anh Đức không phải mạng người để ông đổi. Anh Khải không phải kẻ trộm.” Ông Bách rút súng săn chĩa vào tôi. Dậu lao vào, súng nổ lên mái. Tổ công tác tràn vào.
Khải ra đối chất. Nhánh hầm mở lại, tìm thấy thi thể hai người. Sổ giao ca, sổ thật, lời khai công nhân, dấu tay tôi bị lợi dụng, di thư giả, thuốc độc Dậu chuẩn bị… từng mảnh ghép lại. Ông Bách phủ nhận nhưng không che mãi được. Dậu chịu tội việc mình làm. Khải về nhà. Mẹ tôi được chữa tiếp. Cô Lành lỡ miệng: thuốc hôm cắt là tiền Hương bán đôi bông tai mẹ Nhàn để lại.
Mùa thu năm sau, tôi nói với Hương: cuộc hôn nhân trước bị ép, anh muốn trình bày rõ để em được tự do. Cô hỏi nếu em đi thì sao. Tôi đáp anh tiễn. Cô nói: “Anh phải đi cùng.” Chúng tôi đăng ký lại bằng ý muốn thật. Đầu 1989 rời Khe Trầm. Tôi bốc hàng rồi lái xe. Hương mở hiệu thuốc An Tâm. Sau này có hai con. Mẹ sống cùng, tóc bạc nhưng hồng hào hơn.
Đôi khi đêm khuya tôi nhìn Hương ngủ, nhớ bàn tay cô kéo tay tôi đặt lên bụng giả, nhớ gói giấy dưới đèn dầu, nhớ kho thóc tối và tiếng súng. Ông Bách từng nói cho tôi cơ hội đổi đời. Ông nhầm. Thứ tôi nhận được không phải nhà ngói hay việc làm. Là người phụ nữ từng bị coi là món nợ, nhưng với tôi không gì định giá được. Căn nhà cũ ở Khe Trầm giờ chỉ còn trong ký ức. Tiếng ho mẹ, tiếng mưa phùn, tiếng cười Tỵ… tất cả lắng xuống thành một khoảng lặng dài, đủ để biết có những sợi dây ân nghĩa từng siết cổ mình, cuối cùng cũng đứt khi sự thật được kéo ra ánh sáng.





