Mẹ Chồng Hỏi Sổ Đỏ Nhà Tôi Đứng Tên Ai Trong Bữa Cơm Đầy Tháng – 8 Năm Sau, Tôi Lật Tẩy Bí Mật Khiến Cả Họ Chết Lặng!
Mâm cơm đầy tháng thằng Bin bày giữa nhà. Con gà luộc vàng óng, đĩa xôi đỏ, chai rượu nếp mẹ chồng mang từ quê lên. Tôi bế thằng bé trên tay, nó vừa tròn một tháng, da còn đỏ hỏn.
Mẹ chồng gắp miếng thịt gà bỏ vào bát tôi. “Ăn đi cho có sữa. Mà này, cái nhà bố mẹ mày cho, giấy tờ đứng tên ai?”
Tôi sững lại. Cả mâm cơm im phăng phắc. Chị em chồng nhìn nhau. Chồng tôi – lúc đó còn sống – cúi mặt bóc vỏ tôm.
“Dạ… đứng tên con.”
“Đứng tên con à.” Bà nhắc lại, giọng không lên không xuống. “Thế thì tốt quá. Con trai tôi lấy vợ, có cái nhà vợ cho, tôi cũng yên tâm.”
Bà cười. Tôi không cười được. Mâm cơm hôm đó có món canh măng, món chồng tôi thích nhất. Anh ăn hai bát, không nói thêm câu nào.
Lúc đó tôi không biết rằng, cái câu hỏi tưởng như vu vơ ấy lại là khởi đầu cho tất cả.
Tôi lấy chồng năm hai mươi hai tuổi. Anh tên Hùng, làm thợ cơ khí, tháng kiếm được hơn bảy triệu. Tôi làm kế toán cho một công ty may, lương ba triệu tám. Cưới nhau xong, hai vợ chồng ở trọ trong căn phòng mười lăm mét vuông ở quận Bình Tân, tiền thuê một triệu hai.
Mẹ chồng tôi ở dưới quê, thỉnh thoảng lên thăm. Mỗi lần lên, bà thường ở lại vài tuần. Bà hay nói: “Con trai tôi ngày xưa học giỏi nhất làng, thầy giáo khen suốt. Giá mà nó chịu thi đại học thì đâu đến nỗi.”
Hàm ý rõ ràng. Tôi nghe nhưng không đáp.
Tiền nong trong nhà, tôi giữ. Chồng đưa lương, tôi để riêng ra. Mỗi tháng gửi mẹ chồng một triệu. Bà bảo “để tao mua thuốc”. Nhưng tôi biết bà đưa tiền cho em chồng – cô em út đang học cao đẳng ở Sài Gòn.
Rồi chồng tôi dính vào cờ bạc. Không nhiều, nhưng đủ để nợ. Ban đầu là mấy triệu, sau thành mấy chục triệu. Anh giấu tôi. Tôi phát hiện khi có người đến nhà đòi nợ, cầm cái giấy vay viết tay nguệch ngoạc.
“Anh vay bao nhiêu?”
“Ba chục.”
“Để làm gì?”
Anh im. Tôi đưa tiền tiết kiệm ra trả. Hết sạch. Cái sổ tiết kiệm tôi để dành từ ngày cưới, bốn mươi hai triệu, bay trong một buổi chiều.
Mẹ chồng biết chuyện. Bà không mắng con trai. Bà mắng tôi: “Làm vợ mà không biết giữ chồng. Để nó hư hỏng là lỗi tại mày.”
Tôi cúi đầu. Không cãi.
Năm thằng Bin chào đời, bố mẹ tôi quyết định cho tôi căn hộ. Căn hộ cũ ở quận Tân Phú, gần bốn mươi mét vuông, mua từ năm tôi học lớp mười hai. Bố tôi nói: “Con gái đi lấy chồng, không có cái gì trong tay, thiệt thòi lắm.”
Bố mẹ tôi làm giấy tờ hẳn hoi. Ra phòng công chứng ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, ký tá đầy đủ. Sổ đỏ đứng tên tôi. Mẹ tôi dặn: “Cái này là của con. Giữ cho con của con.”
Tôi nghe. Nhưng lúc đó tôi vẫn tin vào chữ “gia đình” theo cách ngây thơ.
Mẹ chồng biết chuyện. Bà từ dưới quê lên ngay, mang theo một chai nước mắm và hai ký gạo. Bà đi một vòng quanh căn hộ, sờ tường, mở tủ, nhìn ban công. “Nhà nhỏ nhưng được. Ít ra cũng có chỗ chui ra chui vào.”
Rồi bà đổi giọng. Từ đó, bà không còn mắng tôi nữa. Bà gọi tôi là “con”, nấu cơm cho tôi ăn, mua chè cho tôi ăn chiều. Chồng tôi thấy vậy thì vui: “Thấy chưa, mẹ thương em rồi.”
Tôi không tin lắm. Nhưng tôi vẫn để bà ở.
Một hôm, bà nói: “Con út sắp cưới. Nhà trai người ta có điều kiện. Mình phải lo cho nó cái gì đó.”
Tôi hỏi: “Mẹ định lo gì?”
Bà cười: “Tính sau.”
Một đêm, tôi dậy cho con bú. Nhà chật, chỉ có một phòng ngủ, bà ngủ ở ghế sofa phòng khách. Tôi nghe tiếng bà nói chuyện điện thoại. Giọng nhỏ, nhưng đêm khuya im quá, tôi nghe được từng chữ.
“Ừ, tao biết rồi. Cái nhà đó đứng tên con dâu tao. Nhưng nó là vợ thằng Hùng, thì cũng là nhà của con tao. Mày đừng lo. Tao có cách.”
Tôi đứng im sau cánh cửa. Thằng Bin trong nôi khua tay. Tôi quay lại, đặt vú cho con bú, rồi nằm xuống. Không nói gì với chồng. Không nói gì với ai.
Sáng hôm sau, bà vẫn cười. Bà bảo: “Hôm nay mẹ nấu phở cho con ăn sáng nhé.”
“Dạ.”
Tôi ăn phở. Nước dùng ngọt, thơm mùi gừng. Tôi ăn hết, rửa bát, rồi đi làm. Lòng tôi nặng như đá. Nhưng tôi không nói.
Thằng Bin được bảy tháng. Tôi xếp quần áo cho nó, mở ngăn tủ dưới cùng của bà để tìm cái khăn len. Trong đống áo cũ, tôi thấy một tờ giấy. Biên nhận cầm cố.
Tôi đọc. Sổ đỏ nhà ống ở dưới quê – căn nhà bà đang ở – đem cầm cho một tiệm cầm đồ ở chợ huyện. Số tiền: hai trăm triệu. Người đứng tên vay: mẹ chồng tôi. Ngày vay: trước khi tôi sinh thằng Bin hai tháng.
Tôi ngồi bệt xuống sàn. Thằng Bin đang ngủ trong nôi. Bên ngoài, tiếng xe cộ vọng vào cửa sổ.
Tôi nhớ lại những ngày trước khi cưới. Chồng tôi nợ cờ bạc. Ba chục triệu tôi trả. Nhưng có lẽ còn những khoản khác. Những khoản anh không kể. Những khoản mẹ anh đã trả thay.
Tôi gấp tờ biên nhận lại. Đặt về chỗ cũ. Xếp áo cho con, gấp ngay ngắn.
Tôi không nói với chồng. Không nói với mẹ đẻ. Không nói với ai. Tôi chỉ im.
Lúc đó tôi không biết rằng, sự im lặng của tôi sẽ kéo dài suốt tám năm.
Tám năm sau. Chồng tôi mất. Tai nạn xe máy, trên đường từ công trình về, mưa, đường trơn. Anh đi trước khi thằng Bin kịp gọi “bố” một cách trọn vẹn.
Ngày giỗ thứ ba của anh. Tôi dắt thằng Bin ra nghĩa trang. Nó tám tuổi, cao hơn tôi một cái đầu, mặc áo sơ mi trắng, quần tây đen. Nó đứng trước mộ bố, hai tay chắp sau lưng.
“Mẹ ơi, con được học sinh giỏi.”
“Giỏi quá.”
“Con muốn khoe với bố.”
“Bố nghe thấy mà.”
Nó cúi xuống, đặt bó hoa cúc vàng lên mộ. Tôi nhìn tấm bia. Hùng. 1988 – 2018. Ảnh anh cười, tấm ảnh chụp ngày cưới, tôi chọn.
Rồi tôi thấy một người đàn ông đứng cách đó mấy bước. Áo vest đen, giày da bóng, tóc bạc hai bên thái dương. Ông nhìn thằng Bin chằm chằm.
Thằng Bin nói nhỏ: “Bố ơi, con được học sinh giỏi.”
Người đàn ông bước tới. Giọng run: “Cháu… sao cháu lại gọi con trai tôi là bố?”
Thằng Bin ngẩng lên. “Dạ, bố con tên Hùng. Bố mất rồi ạ.”
Ông nhìn tôi. “Cô là vợ của Hùng?”
“Dạ.”
“Tôi là bố nó.”
Tôi sững người. Chồng tôi chưa bao giờ kể bố nó còn sống. Mẹ chồng tôi bảo bố nó mất từ lâu. Mất trong một vụ tai nạn ở miền Trung. Không có mộ.
Ông ngồi xuống bên cạnh mộ. Hai tay ôm mặt. Một lúc lâu, ông nói: “Tôi tìm nó mười năm rồi.”
Hôm đó là ngày giỗ. Tôi mời ông về nhà ăn cơm. Nhà dưới quê, mâm cơm giỗ bày biện đầy đủ. Mẹ chồng tôi ngồi ở đầu mâm. Bà nhìn thấy ông, mặt bà xám lại.
“Sao ông lại ở đây?”
“Tôi đến thăm con tôi.”
“Con của ông chết rồi.”
“Tôi biết. Nhưng nó có con. Cháu tôi.”
Bà đứng dậy. “Ông đi đi. Cái nhà này không chào đón ông.”
Tôi đứng giữa hai người. Thằng Bin đứng sau lưng tôi, tay nắm vạt áo.
Rồi tôi quay sang mẹ chồng. Cả họ đang ngồi quanh mâm cơm giỗ. Chị em chồng, các bác, các cô. Ai cũng im.
Tôi hỏi mẹ chồng, trước mặt cả họ, sổ đỏ ngôi nhà này hiện đang nằm ở đâu.
……………………………………………
Đọc tiếp câu chuyện bên dưới
👇 👇 👇
Bà chết lặng. Mặt bà từ xám chuyển sang trắng. Bà há miệng, không nói được gì.
“Cô… cô nói cái gì?”
“Sổ đỏ nhà này. Mẹ đem đi cầm rồi, đúng không?”
Cả họ xôn xao. Bà chị chồng tôi – người lớn nhất trong đám – đứng dậy: “Em nói cái gì vậy? Mẹ làm gì có chuyện đó.”
Tôi móc trong túi ra tờ biên nhận. Tôi đã giữ nó suốt tám năm. Giấy đã ố vàng, nhưng chữ còn rõ. Tôi đặt lên mâm cơm, bên cạnh đĩa thịt gà luộc.
“Đây. Biên nhận cầm cố. Hai trăm triệu. Ngày vay: mười hai tháng ba, năm hai ngàn mười bảy. Mẹ đứng tên.”
Bà chị chồng cầm lên đọc. Tay bà run. Bà đọc xong, ngồi phịch xuống ghế.
Mẹ chồng tôi bắt đầu khóc. Không phải khóc thương. Khóc vì bị bắt quả tang. Bà nói: “Tao làm vậy là vì con trai tao. Nó nợ người ta. Người ta đòi. Tao không có tiền. Tao phải cầm.”
“Vì con trai mẹ. Con trai mẹ nợ bao nhiêu?”
“Hai trăm triệu.”
“Hai trăm triệu. Mẹ cầm nhà để trả nợ. Rồi mẹ định chuộc bằng gì?”
Bà im.
“Bằng căn hộ của tôi. Phải không?”
Bà nhìn tôi. Mắt bà ráo. “Mày là dâu tao. Nhà mày cũng là nhà tao. Tao lấy để cứu con tao.”
“Cứu con trai mẹ. Còn con trai tôi thì sao?”
Thằng Bin đứng sau tôi. Nó không hiểu hết. Nhưng nó biết có chuyện.
Ông chủ tịch – bố chồng tôi – ngồi im suốt. Rồi ông nói: “Bà cầm nhà từ bao giờ?”
“Tám năm rồi.”
“Tám năm. Bà giấu tôi tám năm.”
“Ông có phải chồng tôi đâu. Ông bỏ tôi từ lâu rồi.”
“Tôi bỏ bà vì bà giấu tôi chuyện con nợ. Bây giờ bà giấu tôi chuyện cầm nhà.”
Cả họ im. Chỉ còn tiếng quạt trần kêu cót két.
Rồi bà chị chồng hỏi: “Vậy giờ sổ đỏ đâu?”
“Ở tiệm cầm đồ. Chợ huyện. Tao chưa chuộc.”
“Tiền lãi bao nhiêu?”
“Ba trăm triệu rồi.”
Cả họ há hốc. Hai trăm triệu vay, tám năm, thành ba trăm triệu. Căn nhà ống ở quê trị giá chừng bốn trăm triệu. Nếu bán, còn dư chút. Nhưng bán nhà thì ở đâu?
Tôi nhìn mâm cơm giỗ. Con gà luộc còn nguyên. Xôi đỏ chưa bới. Chén rượu còn đầy. Chồng tôi thích nhất món gà luộc chấm muối tiêu. Tôi gắp một miếng, đặt vào chén của anh, trước di ảnh.
Rồi tôi nói: “Căn hộ của tôi, bố mẹ tôi cho tôi. Công chứng đàng hoàng. Không ai được bán.”
Mẹ chồng tôi đứng dậy. Bà chỉ tay vào mặt tôi: “Mày là đồ vô ơn. Tao nuôi mày ba năm. Tao trông con cho mày. Mày nỡ nào…”
Tôi cắt lời: “Mẹ nuôi con mẹ. Không phải nuôi con tôi. Con tôi một tay tôi nuôi từ ngày chồng tôi mất.”
Bà im. Bà ngồi xuống. Bà không khóc nữa. Bà nhìn cái mâm cơm, như thể trong đó có câu trả lời.
Ông chủ tịch đứng dậy. Ông lấy ví, móc ra một xấp tiền. “Đây là hai trăm triệu. Tôi trả để chuộc nhà. Còn một trăm triệu lãi, tôi không trả. Ai vay người đó trả.”
Bà chị chồng: “Bố…”
“Đừng gọi tôi là bố. Tôi không có con.”
Ông đặt tiền lên bàn. Rồi ông quay sang thằng Bin. “Cháu ngoan. Học giỏi. Ông nội tự hào.”
Ông đi ra cửa. Không ai đứng dậy tiễn.
Căn nhà ống ở quê phải bán. Bà chị chồng đứng ra lo. Bán được bốn trăm hai mươi triệu. Trả hai trăm triệu vay gốc. Trả một trăm triệu lãi – ông chủ tịch không trả, bà chị phải trả. Còn lại một trăm hai mươi triệu.
Chia thế nào? Bà chị chồng bảo: “Chia đều. Mẹ một phần, các con một phần.”
Mẹ chồng tôi nhận bảy mươi triệu. Bà chị chồng nhận năm mươi triệu. Em chồng – cô em út sắp cưới – nhận không đồng nào. Cô ấy khóc: “Em sắp cưới mà không có gì.”
Bà chị chồng: “Tại mày. Mẹ cầm nhà cũng vì trả nợ cho anh mày. Anh mày nợ cũng vì mày.”
Em chồng im.
Mẹ chồng tôi dọn về ở với bà chị chồng. Bà không nói chuyện với tôi nữa. Cũng không xin lỗi. Bà chỉ nói một câu khi tôi đến đưa đồ: “Tao không cần mày thương.”
Tôi để đồ ở cửa. Quay đi.
Căn hộ của tôi vẫn nguyên. Tôi trả hết nợ cũ của chồng – những khoản anh vay mà tôi không biết, người ta đến tận nhà đòi sau khi anh mất. Tổng cộng sáu mươi triệu. Tôi trả hết. Không còn nợ.
Thằng Bin vẫn học giỏi. Năm sau nó thi học sinh giỏi thành phố, được giải khuyến khích. Nó mang tờ giấy khen về, đặt lên bàn thờ bố.
“Mẹ ơi, con làm được rồi.”
“Ừ. Bố thấy mà.”
Nó nhìn tôi: “Mẹ ơi, ông nội giàu lắm hả mẹ?”
“Ừ.”
“Sao ông không ở với mình?”
Tôi không biết trả lời thế nào.
Bây giờ, mỗi năm đến ngày giỗ chồng, tôi vẫn dắt thằng Bin ra nghĩa trang. Mộ anh nằm ở góc nghĩa trang, có cây bàng che nắng. Tôi thắp hương, thằng Bin quét lá. Rồi hai mẹ con ngồi một lúc, không nói gì.
Ông chủ tịch thỉnh thoảng gọi điện. Ông hỏi thăm thằng Bin. Hỏi học hành thế nào. Hỏi có cần gì không. Tôi nói không cần. Ông gửi tiền, tôi không nhận. Ông gửi quà, tôi nhận. Sách vở, quần áo, đôi giày. Thằng Bin vẫn gọi ông là “ông nội”. Nhưng nó không hỏi thêm.
Mẹ chồng tôi bây giờ ở dưới quê với bà chị. Bà yếu rồi. Bà chị nói bà hay ngồi một mình ngoài hiên, nhìn cái sân gạch. Không nói gì.
Tôi không giận bà nữa. Nhưng cũng không thương. Chỉ là một người đàn bà đã làm những chuyện bà nghĩ là đúng, để rồi mất tất cả.
Còn tôi, tôi có căn hộ. Có thằng Bin. Có một tờ biên nhận ố vàng mà tôi vẫn giữ, trong ngăn tủ, dưới đáy.
Đôi khi tôi lấy ra, nhìn. Rồi cất lại.
Không để làm gì cả. Chỉ để nhớ.





