Bỏ rơi con 35 năm, bà mẹ giàu có gõ cửa xin cứu mạng, câu đáp của anh bác sĩ khiến bà chết lặng…..
Tiếng chuông cửa vang lên khi tay tôi còn ướt nước rửa rau. Tôi mở cửa, và cả người đông cứng như bị ai dội gáo nước lạnh từ đầu xuống chân.
Người phụ nữ đứng ngoài hành lang khoác áo lông đắt tiền, cổ đeo chuỗi ngọc trai lấp lánh, nhưng đôi mắt trũng sâu và làn da vàng sạm như tàu lá héo. Ba mươi lăm năm rồi, tôi vẫn nhận ra khuôn mặt ấy. Vợ tôi. Người đàn bà đã bỏ lại đứa con đỏ hỏn trong đêm mưa gió năm nào.
Tôi chắn ngang cửa, gằn giọng hỏi bà ta tìm ai. Bà ta cố nặn một nụ cười, mắt rơm rớm, nói muốn tìm lại chồng con để bù đắp lỗi lầm. Hai chữ “bù đắp” khiến tôi muốn bật cười thành tiếng. Tôi bảo người chồng nghèo và đứa con không lành lặn của bà đã chết từ ba mươi lăm năm trước, ở đây không còn ai để bà bù đắp.
Tôi định đóng sập cửa thì bà ta thò tay chặn lại, khóc lóc xin được gặp Minh một lát thôi. Bà ta kể đã nhìn thấy con trên tivi, nhận ra cái tên, khuôn mặt giống tôi như tạc và cả bước chân khập khiễng ấy. Từ đó bà ta thuê người dò hỏi, lần theo tận đây.
Tôi gạt tay bà ta ra, quát rằng bà không có tư cách nhắc tên con tôi. Thằng bé lớn lên bằng nước cơm, bằng những lần tôi đi bán máu, bằng mồ hôi nước mắt của một người cha, chứ chưa từng có một giọt sữa nào của bà. Lúc con bị người đời chỉ trỏ, lúc con ngã rách chân giữa sân trường, lúc con ngước mắt hỏi mẹ đâu, bà ở đâu? Giờ thấy nó thành tài mới vác mặt đến nhận người thân sao?
Tôi đóng sập cửa, ngồi phịch xuống ghế, hai tay ôm đầu. Tôi sợ. Không phải sợ bà ta, mà sợ Minh sẽ đổ vỡ nếu biết người mẹ nhẫn tâm ấy đang đứng ngoài kia.
Đúng lúc ấy, tiếng chìa khóa lạch cạch. Minh đi làm về sớm. Cánh cửa mở ra, con đứng sững khi thấy người đàn bà đang khóc tức tưởi ngoài hành lang. Con cởi áo blouse trắng, liếc nhìn gương mặt tái đi của tôi rồi quay sang bà ta. Ánh mắt con sắc lạnh, bình tĩnh đến gai người.
Bà ta òa khóc, nhào tới định ôm, nhưng Minh lách người tránh. Bà gọi tên con, xưng mẹ ngọt sớt, bảo mẹ đã day dứt mấy chục năm, nay đến nhận lại núm ruột. Minh đứng thẳng, hai tay đút túi quần, nhìn bà từ đầu đến chân như đang khám bệnh. Rồi con hỏi: “Bà là ai? Sao lại khóc trước cửa nhà tôi?”
Bà ta lắp bắp nói mình là người đã mang nặng đẻ đau sinh ra con. Minh khẽ nhếch môi. Con bảo trong giấy khai sinh của con chỉ có tên cha. Từ nhỏ đến lớn, người duy nhất dạy con tập đi, đưa con đến trường, thức trắng mỗi khi con sốt là ba con. Người mẹ sinh ra con đã chết từ cái đêm bỏ lại đứa trẻ sơ sinh ở trạm xá. “Bà chỉ là người xa lạ đi nhầm nhà. Mời bà về.” Con mở cửa, đưa tay mời, rồi đóng lại dứt khoát.
Ngoài hành lang, tiếng đập cửa ầm ầm. Bà ta gào lên rằng mình đang mắc bệnh nặng, thời gian không còn nhiều, xin con cứu lấy mẹ. Hai chữ “bệnh nặng” làm tay tôi run lên. Tôi thấy chân mày Minh khẽ nhíu lại. Con là bác sĩ, nghe người ta kêu cứu thì bản năng nghề nghiệp trỗi dậy, dù người kêu cứu lại là kẻ đã khiến con chịu biết bao tủi hổ.
Qua cánh cửa, bà ta kể một hơi: sau khi bỏ chúng tôi, bà lên thành phố buôn bán, phất lên thành nữ đại gia, lấy chồng giàu, sinh hai đứa con lành lặn. Bà từng tin quyết định ngày ấy là đúng. Cho đến một năm trước, bác sĩ báo bà suy gan giai đoạn cuối. Hai đứa con khác nhóm máu, người chồng nhăm nhe chia tài sản. Cơ hội sống duy nhất là ghép gan từ người cùng huyết thống. Bà đã thấy bản tin về bác sĩ Minh, biết con mang nhóm máu hiếm giống hệt mình. Bà hứa để lại cả công ty, biệt thự, xe hơi, chỉ cần con hiến một phần lá gan.
Tôi mở toang cửa, chỉ thẳng mặt bà ta: “Cút đi! Đừng đem đồng tiền ra mua nhân phẩm con trai tôi!” Cha con tôi nghèo nhưng sống ngẩng cao đầu. Minh bước tới, đặt tay lên vai tôi, rồi quay sang bà ta. Ánh mắt con không còn sắc lạnh mà là một nỗi thương hại sâu thẳm. Con nói y đức không cho phép bỏ mặc bất kỳ ai cận kề cái chết, nên con sẽ nhận ca bệnh này, nhưng không vì tài sản, cũng không vì tình mẹ con. Còn chuyện hiến gan, con từ chối dứt khoát. Cơ thể con vốn đã thiếu một phần, con không đổi thêm một phần nữa cho người từng quay lưng với mình.
Đêm ấy, bữa cơm dọn ra không ai đụng đũa. Minh nhốt mình trong phòng làm việc đến tờ mờ sáng. Tôi pha ly sữa nóng bước vào, thấy con gục đầu trên những tấm phim. Con ngước lên, mắt đỏ hoe, rồi gục vào vai tôi: “Ba ơi, sao bà ấy nhẫn tâm đến thế? Ba mươi lăm năm không một lần hỏi con sống chết ra sao.” Tôi ôm đôi vai đang run, nói ba không bắt con tha thứ, chỉ mong con làm điều khiến lương tâm thanh thản. Cứ ôm mãi ngọn lửa oán hờn thì người bỏng đầu tiên là chính mình.
Sáng hôm sau, con mặc quần áo phẳng phiu, đánh bóng giày bên ngoài phần chân giả, bước ra khỏi nhà. Tôi không biết rằng một tháng sau, chính con sẽ phải bước ra khỏi phòng mổ trong tình trạng khiến tôi suýt gục xuống.
……………………………………………
👇👇👇
Bà ta được tài xế đưa vào viện, da vàng vọt, bụng trướng, nằm giữa căn phòng đặc hoa tươi mà không một người thân. Chồng viện cớ công tác nước ngoài, hai đứa con chỉ gọi hỏi luật sư đã lập di chúc chưa. Bà thều thào đưa tờ di chúc chuyển nhượng cổ phần cho Minh, nhờ con dùng quyền để ưu tiên tìm tạng. Con lạnh lùng đẩy trả: trong bệnh viện, tỷ phú hay người ăn xin đều đứng chung một danh sách chờ.
Một tháng ròng, ngày nào Minh cũng túc trực. Bà ta liên tục hôn mê, máu rỉ ra từng đợt. Những đêm cấp cứu, con chạy đôn đáo, gầy sọp, mắt thâm quầng, lén tiêm thuốc giảm đau vào mỏm chân vì đứng quá lâu khiến da thịt rách rớm máu. Tôi hỏi sao con dốc sức vì người không xứng đáng. Con cười nhợt nhạt: “Con không cứu một người mẹ, ba ạ. Con đang cứu một bệnh nhân. Và con muốn đứa trẻ bị bỏ rơi ngày nào là người duy nhất không bỏ rơi bà ấy lúc khốn cùng nhất.”
Rồi một rạng sáng, bệnh viện nhận tin có người hiến tạng, lá gan hoàn toàn tương thích. Minh là phẫu thuật viên chính. Trước khi vào phòng mổ, bà ta tỉnh lại vài phút, nắm vạt áo con: “Mẹ xin lỗi… mẹ không xứng được sống.” Con gỡ nhẹ tay bà: “Bà hãy giữ sức. Tôi sẽ làm hết trách nhiệm, chuyện khác để sau.” Cánh cửa khép lại. Tôi ngồi ngoài hành lang, mắt dán vào ngọn đèn đỏ. Mười lăm tiếng trôi chậm như mười lăm thế kỷ. Tôi nhớ ngày bế Minh đỏ hỏn rời trạm xá, những lần ngã xuống mương sau khi bán máu, đôi nạng gỗ nhuốm máu của con. Tôi không lo cho bà ta. Tôi chỉ lo cho đôi chân con.
Khi đèn tắt, Minh bước ra sau cùng, áo ướt đẫm mồ hôi. Vừa qua cửa, con khuỵu gối, tay bám tường. Tôi lao tới ôm chặt thân hình đang run. Con thở dốc, môi tái, vẫn nở nụ cười: “Ba ơi, xong rồi. Lá gan mới đã hoạt động.” Tôi tháo chân giả cho con. Mỏm chân sưng đỏ, da dộp rỉ máu. Tôi lau bằng nước ấm, xoa dầu nóng, hai cha con ngồi lặng. Khối đá đè nặng mấy chục năm như vừa được dỡ xuống.
Hai tuần sau, ngày bà ta chuyển phòng, Minh rủ tôi vào thăm lần cuối. Bà nắm tay con khóc, gọi con là vị Phật sống, xin được sang tên toàn bộ tài sản, xin được sống cùng để chuộc lỗi. Minh nhẹ nhàng rút tay: “Nhiệm vụ của bác sĩ đến đây là hết. Món nợ trên bàn mổ tôi đã trả đủ. Từ nay không ai nợ ai điều gì nữa.” Bà ôm mặt gào khóc. Tôi nhìn lần cuối, chỉ thấy thương hại. Tôi cùng con quay lưng bước đi, tiếng khóc nhỏ dần sau cánh cửa.
Rồi cầu vồng xuất hiện sau cơn mưa. Cô ấy tên Thu, điều dưỡng khoa Nhi, con nhà công chức bình thường, trái tim trong như nước suối. Minh rung động khi thấy Thu dùng vạt áo blouse lau bùn trên chân một cậu bé vùng cao, rồi băng bó bằng ánh mắt xót xa như một người mẹ. Nhưng bố mẹ Thu phản đối. Họ không chê nghèo, chỉ sợ con gái phải gánh thay người chồng khuyết tật. Bố Thu gọi cho tôi, lịch sự mà kiên quyết, xin tôi khuyên con buông tay.
Minh nói đôi chân nhựa có thể khiến con đi chậm, nhưng không ngăn con đi tới. Cuối tuần nào con cũng bắt xe về nhà Thu, sửa ống nước, thay mái ngói, chăm ông nội bị tai biến. Có hôm mỏm chân rớm máu, con giấu nhẹm, chỉ cười. Đêm mưa bão, mẹ Thu đau ruột thừa cấp, bệnh viện huyện quá tải, Minh lái xe xuyên đêm đưa bà lên trung ương và đích thân mổ. Sáng ra bà tỉnh dậy, thấy con gục bên giường, chân giả vẫn đeo, áo ướt sũng. Bà bật khóc. Vài ngày sau, bố mẹ Thu xách giỏ hoa quả đến nhà, xin lỗi vì cái nhìn thiển cận.
Đám cưới giản dị, khách phần lớn là những bệnh nhân Minh từng cứu. Tôi đứng lặng mấy phút trước micro, chỉ nói được một câu: “Ba không có vàng bạc để lại, chỉ có những vết sẹo, một trái tim biết thương người và ý chí không chịu khuất phục.” Hơn một năm sau, Thu sinh cậu bé khỏe mạnh. Tiếng khóc ấy khác xa tiếng khóc xé lòng của Minh trong đêm mưa ba mươi lăm năm trước. Tôi đặt tên cháu là Bình An.
Vợ chồng con lập quỹ Bước Chân Hy Vọng, lắp chân tay giả cho trẻ mồ côi. Tôi mở xưởng mộc nhỏ ngoại ô, dạy nghề miễn phí cho những đứa trẻ khiếm khuyết.
Hai năm trước, chúng tôi nhận tin bà ta mất vì nhồi máu cơ tim, sau những năm cuối cô độc trong biệt thự rộng. Minh đến thắp một nén nhang, không ghi tên tang quyến. Một tuần sau, luật sư mang đến bức thư tay: bà đã bán hết cổ phần, biệt thự, góp vào quỹ dưới danh nghĩa ẩn danh. Bà viết không mong được tha thứ.
Minh dùng số tiền ấy dựng một trung tâm phục hồi chức năng cho trẻ nghèo, không khắc tên người tặng. Tối ấy, tôi ngồi ngoài ban công, nghe tiếng cười của Bình An vọng ra từ gian bếp, chợt nghĩ đến một người đàn bà đã chết cô độc giữa biệt thự rộng. Nếu đêm mưa ấy bà quay lại một lần thôi, có lẽ giờ này mâm cơm nhà tôi đã có thêm một đôi đũa. Gió lùa qua ban công, mang theo mùi canh nóng, và tôi không biết mình đang thương hay đang tiếc.





