Ngày GIỖ VỢ, Đại Tá Đứng Hình Khi Cô Gái Giao Hàng Mang Khuôn Mặt Người Đã Khuất….
Cô gái giao hàng kéo khẩu trang xuống lau mồ hôi, và tôi đánh rơi cả mâm cỗ chay cúng vợ xuống đất.
Trước mặt tôi là khuôn mặt trái xoan ấy, đôi mắt buồn ấy, và dưới đuôi mắt trái là một nốt ruồi giọt lệ mờ mờ. Đúng vị trí ấy. Đó là Thu, vợ tôi, của ba mươi năm về trước.
Hôm đó là ngày giỗ thứ ba của bà ấy.
Tôi là Trọng, đại tá về hưu, hơn ba mươi năm làm lính trinh sát. Đạn bắn sát tai tôi chưa từng run. Vậy mà trưa hôm ấy, tôi chồm tới túm chặt vai một cô gái lạ, nước mắt trào ra: “Thu ơi, sao em lại ở đây?”
Cô bé tái mét, đẩy tôi ra: “Chú làm sao thế? Cháu chỉ đi giao hàng thôi mà…” Rồi nhảy lên chiếc Wave cũ, rồ ga chạy mất. Tôi quỳ xuống bậc hiên, khóc như đứa trẻ lạc mẹ. Rốt cuộc người con gái đó là ai? Và vợ tôi đã giấu tôi điều gì?
Ứng dụng còn lưu tên tài xế: Nguyễn Thị Hoài. Tôi không dám gọi. Tôi làm cái việc mình làm cả đời: bám địa bàn.
Ba ngày ngồi quán trà đá đối diện nhà hàng chay, tôi mới gặp lại nó. Một buổi chiều bám theo, tôi thấm thế nào là cực. Nắng hầm hập, đến đèn đỏ mới dám cắn vội nửa ổ bánh mì khô. Tối, một gã khách chỉ thẳng mặt mắng vì thang máy hỏng nên giao chậm, nó cúi gập người, vét mấy đồng tiền lẻ nhàu nát xin đền. Nửa đêm, nó về xóm trọ mái tôn gỉ sét, úp gói mì bằng nước phích ăn một mình.
Vợ tôi lấy tôi chưa từng khổ một ngày. Nhìn đứa trẻ này, tôi như thấy chính vợ mình bị đày đọa.
Trưa hôm sau, ở quán cơm bụi, tôi ngồi sát lưng nó, chờ vài sợi tóc rơi xuống ghế nhựa. Cả đời bắt tội phạm, vậy mà lúc nhặt mấy sợi tóc ấy, tay tôi run như kẻ cắp. Tôi gửi đi xét nghiệm hai gói: một của tôi với con bé, một là sợi tóc còn sót trên chiếc lược cũ của vợ tôi.
Ba ngày chờ dài như ba mươi năm.
Phong bì thứ nhất: không có quan hệ cha con. Tim tôi thắt lại, vì khả năng còn lại quá khủng khiếp.
Phong bì thứ hai: bà Thu và Nguyễn Thị Hoài có quan hệ mẹ con ruột. Xác suất 99%.
Tôi lao đến bàn thờ, chỉ thẳng vào di ảnh mà gào: “Cô lừa tôi cả một đời người!” Lọ hoa sứ vỡ tan. Nhưng nhìn bà vẫn mỉm cười hiền hậu trong khung ảnh, chân tôi khuỵu xuống. Tôi nhớ những ngày Quốc tế Thiếu nhi bà lủi thủi trong bếp khóc thầm, tôi cứ tưởng bà yếu trong người.
Gần sáng, trong hộp trang sức đỏ ngày cưới, tôi tìm thấy một chiếc chìa khóa đồng xỉn đen. Nó vừa khít một hộc chìm dưới đáy chiếc tủ gỗ của hồi môn. Bên trong là hộp bánh quy thiếc gỉ sét, cả trăm tờ biên lai gửi tiền cho cô nhi viện Hoa Hướng Dương ở quê ngoại, suốt ba mươi năm. Và những lá thư chưa từng gửi.
“Gửi con gái của mẹ. Mẹ xin lỗi con, mẹ là một kẻ hèn nhát.”
Bà viết mỗi Tết về quê, bà lén đứng nấp sau gốc xà cừ trước cổng cô nhi viện, nhìn trộm xem con mặc áo màu gì. “Mẹ đặt tên con là Hoài, vì cả đời này mẹ sẽ sống trong hoài niệm và ân hận.” Cha đứa bé, bà chỉ gọi là “cơn ác mộng của đời mẹ”.
Đêm đó tôi lái xe hai trăm cây số về quê, ném tờ ADN xuống trước mặt bà dì họ. Bà sụp xuống phản gỗ mà kể.
Năm mười chín tuổi, Thu bị một gã lơ xe tên Tuấn dỗ ngọt. Có thai, hắn chửi Thu dễ dãi rồi cuỗm sạch tiền vàng bỏ trốn. Gia đình tung tin Thu mắc ho lao, nhốt con bé sáu tháng trong buồng thóc tối om. Đêm sinh, trời mưa bão, Thu đau quá gào lên, mẹ ruột nhét khăn vào miệng. Đứa bé chưa đầy hai cân vừa cắt rốn đã bị giật đi. Thu bò lết ôm chân mẹ van xin, bị đạp văng vào chân giường. Sáng ra, đứa bé nằm trong giỏ tre trước cổng cô nhi viện.
Một năm sau, nhà vợ chủ động gả Thu cho tôi, chàng trung úy vừa về đóng quân gần làng.
Tôi không giận Thu nữa. Tôi chỉ hận mình vô tâm.
Không dám nhận con ngay, tôi bịa chuyện xin lỗi, rồi thuê Hoài chạy việc riêng cho mình. Có hôm mưa to, tôi dúi năm trăm nghìn, nó chỉ rút đúng năm mươi: “Cháu lao động kiếm tiền, cháu không nhận bố thí.” Y hệt mẹ nó.
Tuần thứ ba, đang chở tôi, điện thoại nó reo. Mặt nó trắng bệch: “Em thề em không lấy, hộp còn nguyên tem mà!” Chiếc xe đổ ụp. Đầu gối rách toạc, nó vẫn chỉ quờ quạng nhặt chiếc điện thoại vỡ mà khóc. Một kiện hàng hai trăm triệu, khách mở ra toàn đá cuội. Công ty bắt đền trong ba ngày.
Tôi bắt nó chở thẳng đến công ty: một kho tôn cũ trong hẻm cụt, cả chục gã xăm trổ cởi trần đánh bài. Gã quản lý tóc vàng đòi giữ giấy tờ, đòi “đưa nó đi trừ nợ”. Tôi đập thẻ hưu trí xuống bàn. Chúng chùn lại, gọi sếp.
Mười lăm phút sau, một chiếc xe đen bóng đỗ xịch. Gã đàn ông béo bệu, dây chuyền vàng to bằng ngón tay, bước vào vùng sáng của bóng đèn rồi từ từ tháo kính đen.
Tôi chết đứng.
……………………………………………
Vết sẹo hình nửa vầng trăng ở đuôi lông mày trái. Bà dì từng kể, gã lơ xe năm xưa bị đánh ghen để lại đúng vết sẹo ấy. Trên ngực áo lụa, bảng tên ghi: Giám đốc Lê Anh Tuấn.
Kẻ đã hủy hoại đời vợ tôi đang đứng đó, ép uổng chính giọt máu của mình mà không hề hay biết.
Tay tôi vô thức thò vào trong áo, chỗ ngày xưa tôi dắt súng. Răng tôi nghiến đến bật máu môi. Nhưng nhìn con bé co rúm sau lưng, tôi bừng tỉnh. Đánh hắn, tôi thành kẻ côn đồ. Vạch mặt hắn ở đây, con bé sẽ gục ngã.
Tôi cúi đầu, xưng là bác ruột ở quê, xin khất ba ngày. Hắn cười khẩy, bắt con bé ký giấy nợ, điểm chỉ mực đỏ. Ra đến đường lớn, nó gục lên tay lái: “Chú ơi, hay chú kệ cháu đi, cháu chẳng thiết sống nữa…”
Tôi siết vai nó: “Cấm nói gở. Chú đã nói lo là lo được.”
Đêm đó tôi gọi cho học trò cũ, nay là đội trưởng cảnh sát kinh tế. Công ty của Tuấn đã nằm trong diện theo dõi nhiều tháng: dùng vỏ bọc giao nhận để tuồn hàng cấm, nhắm vào những shipper nghèo, ngây thơ làm bia đỡ. Chỉ thiếu bằng chứng.
Tôi nhớ lại chiếc xe tải đông lạnh đỗ trước cửa kho, camera hành trình chĩa thẳng vào quầy giao nhận. Tôi lần ra tài xế, đặt năm triệu lên nắp capo. Đoạn video hiện rõ mồn một: gã tóc vàng cố tình đánh rơi bút, khi Hoài cúi nhặt thì tráo chiếc hộp thật xuống gầm quầy.
Sáng ngày thứ ba, tôi thắp ba nén nhang cho Thu: “Hôm nay tôi đòi lại công bằng cho bà.”
Mười giờ, trong kho có mười lăm gã cầm tuýp sắt. Tuấn vắt chân trên bàn gỗ lũa. Tôi đặt iPad lên bàn, bấm phát. Mặt gã tóc vàng cắt không còn giọt máu. Tuấn ném vỡ chiếc máy, gầm lên ra lệnh giữ hai chú cháu lại.
Tôi đập tách trà xuống nền xi măng. Còi hụ vang khắp con hẻm. Cảnh sát ập vào, cả đám quỳ rạp ôm đầu.
Bị đè xuống mặt bàn, Tuấn vẫn cười gằn khi tôi nhắc đến Thu: “Đứa bé ấy chết xó đâu rồi? Đời này mạnh được yếu thua. Vợ ông khổ là do vợ ông hèn.”
Tôi kéo Hoài bước lên, giơ tờ ADN trước mặt hắn: “Mở to mắt ra mà nhìn. Đây là con gái của Thu. Là con mày.”
Hắn nhìn tờ giấy, rồi nhìn nốt ruồi giọt lệ dưới mắt con bé. Hắn lùi lại, môi run bần bật: “Không… không thể nào…”
Hoài ôm ngực, lảo đảo: “Chú nói gì cơ? Người này… là bố cháu ư?”
Và trong một giây, cái bản chất ba mươi năm của hắn lộ ra trọn vẹn. Hắn chồm tới gào: “Hoài, con phải cứu bố! Con nhận là con tự tráo hàng đi, bố chia tài sản cho con!”
Tôi tát hắn một cái nổ đom đóm mắt. Hoài quay mặt đi, hai tay bịt chặt tai.
Khi xe cảnh sát khuất hẳn, tôi gỡ tay con bé ra: “Chú không phải người dưng. Chú là chồng của mẹ cháu. Chú đến đón cháu về nhà.”
Nó ngước đôi mắt đỏ hoe: “Thế mẹ cháu đâu hả chú? Mẹ có nhớ cháu không?”
Tôi không trả lời được ngay.
Về đến nhà, tôi đặt hộp thiếc vào tay nó, chỉ lên di ảnh. Nó quỳ xuống. Hai khuôn mặt, một trong khung ảnh, một dưới làn khói hương, giống nhau đến từng nốt ruồi.
“Mẹ ơi.”
Lần đầu tiên trong đời nó gọi tiếng ấy. Căn nhà ba năm lạnh lẽo bỗng như vỡ ra.
Đêm đầu tiên, hai giờ sáng, tôi thấy khe cửa phòng nó còn sáng. Nó không nằm trên giường mà co ro dưới thảm, ôm khư khư hộp thư của mẹ, má còn ướt. Tôi bế nó lên giường, đắp chăn, và khóe mắt mình cay xè.
Tuấn lĩnh án mười tám năm. Nửa năm sau, hắn ho ra máu trong trại, ung thư gan giai đoạn cuối. Hắn nhờ quản giáo viết thư, xin được nghe con gái gọi một tiếng “bố” trước khi nhắm mắt. Hoài đem lá thư lên phòng thờ, đốt trước bát hương: “Con tha thứ cho ông ấy để mẹ được nhẹ lòng. Nhưng con sẽ không gặp. Đời này coi như không nợ nhau.”
Bây giờ con bé là giáo viên dạy văn, tốt nghiệp thủ khoa đúng ngôi trường sư phạm mẹ nó phải bỏ dở. Ngày nhận bằng, nó chạy thẳng xuống chỗ tôi, rúc vào ngực áo quân phục: “Bố ơi, con làm được rồi.” Rồi nó bắt tôi chở ra nghĩa trang, quỳ dưới mưa bụi, đặt tấm bằng lên mộ mẹ.
Mùa thu này nó lấy chồng.
Hôm đi thử váy cưới, tấm rèm kéo ra, nó bẽn lẽn bước tới với mái tóc búi cao, nụ cười e ấp. Tay tôi cầm chén trà run đến sánh cả nước. Đó là Thu ở đầu làng năm nào, áo lụa trắng, cúi đầu mỉm cười.
“Bố khóc gì thế? Váy không đẹp hả bố?”
“Đẹp lắm con. Bố thấy mẹ con trong đó.”
Tuần trước, hai bố con xuống cô nhi viện Hoa Hướng Dương, xây lại dãy nhà cho lũ trẻ. Cánh cổng sắt vẫn rỉ sét như xưa. Bên kia đường, gốc xà cừ vẫn còn đó.
Hoài đứng bám tay vào cổng, kể rằng hồi bé chiều thứ bảy nào nó cũng trốn ra đây, ngóng từng chuyến xe khách, mong mẹ bước xuống. Có những hôm mưa phùn đứng đến tím môi.
Tôi nhìn sang gốc cây bên kia đường, nơi trong thư Thu viết rằng bà từng đứng nấp.
Hai mẹ con, chỉ cách nhau một quãng đường đất.
Người trong cổng ngóng ra. Người sau gốc cây nhìn vào.
Suốt bao nhiêu năm, chẳng ai bước qua.
Còn tôi, những cái Tết theo vợ về quê ấy, tôi vẫn ngồi uống trà nhà ngoại, vô tư tin rằng bà chỉ đi thăm họ hàng.




