Tôi đứng chết lặng giữa cơn mưa cuối tháng 11, nước mưa chảy dọc khuôn mặt mà tôi không buồn lau. Trước mắt tôi, cách chưa đầy mười bước chân, là một người phụ nữ đang quỳ bên đống hộp cơm bỏ đi. Cô mặc chiếc áo khoác xám đã sờn đến mức không còn nhìn ra màu gốc, tóc ướt dính bết vào má, từng sợi run rẩy trong gió lạnh. Cô bẻ phần bánh mì mốc vứt đi, cẩn thận gạt bỏ từng chút một, rồi đưa phần còn lại cho đứa bé ngồi bên cạnh. Đứa bé gầy gò, đôi mắt to đen láy, đón lấy miếng bánh mì bằng hai bàn tay nhỏ xíu run run.
Tôi nhìn dáng người ấy nghiêng đầu sang trái – cái thói quen mà tôi đã nhìn suốt bao năm, nhìn đến mức chỉ cần một cái nghiêng đầu thôi là tôi nhận ra ngay. Rồi tôi nhìn thấy vết sẹo mảnh sau tai trái, và đôi mắt ấy – đôi mắt mà tôi đã từng nhìn vào mỗi tối trước khi ngủ, đã từng thấy cười, thấy khóc, thấy buồn, thấy vui. Chính là Thu Hà. Người vợ tôi đã tự tay đưa tang bảy năm trước.
Khi tôi gọi tên, cô ôm chặt đứa trẻ vào lòng, hoảng sợ hét lên: “Đừng lại gần tôi, tôi không biết anh!” Đứa bé quay đầu lại, cổ áo lệch xuống để lộ sợi dây chuyền bạc xỉn màu khắc hai chiếc lá lồng vào nhau – món quà cưới tôi tặng Hà năm xưa. Sợi dây chuyền đã xỉn màu theo năm tháng, nhưng hình khắc ấy thì tôi không thể nào nhận nhầm.
Tôi là Trần Minh Quân, bốn mươi tuổi, thiếu tá công an. Bảy năm qua tôi sống cùng mẹ trong căn nhà cũ ở Nam Định, ngày ngày thờ cúng vợ. Phòng của Hà tôi giữ nguyên như khi cô còn sống: chiếc lược gỗ vẫn nằm trong ngăn bàn, áo len nâu vẫn treo trong tủ, lọ nước hoa đã cạn mùi nhưng tôi không nỡ vứt. Mỗi sáng tôi thắp hương, mỗi tối tôi ngồi trước di ảnh kể cho cô nghe hôm nay mình đã làm gì, đã gặp ai, đã ăn gì. Người ngoài nhìn vào bảo tôi trung tình, thương vợ đến thế là cùng. Chỉ tôi hiểu, đó không phải là trung tình. Đó là món nợ. Món nợ mà tôi sẽ mang đến hết đời.
Nếu ngày ấy tôi không nhận chuyến công tác xa, có lẽ Hà đã không lên chiếc xe định mệnh. Nếu ngày ấy tôi ở nhà, tôi đã đưa cô đi khám thay vì để cô đi một mình. Nếu ngày ấy tôi nghe máy khi cô gọi, có lẽ mọi thứ đã khác. Nhưng cuộc đời không có chữ “nếu”. Và bảy năm qua, tôi sống trong cái “nếu” ấy mỗi ngày.
Hôm đó tôi vừa kết thúc công tác miền núi. Trời mưa tầm tã, đường đang sửa nên tài xế phải rẽ qua khu xử lý rác. Mùi chua nồng xộc vào xe khiến tôi quay mặt đi. Bãi rác nằm sát mương, vài người cúi nhặt từng mảnh ve chai, mảnh nhựa. Xe chạy chậm qua, và tôi nhìn thấy cô ấy. Thói quen nghiêng đầu sang trái, chân phải hơi kéo khi mệt – Hà từng ngã xe hồi đại học, từ đó đi lại hơi khác người. Tôi bảo tài xế dừng xe, bước xuống dưới mưa. Còn cách mười mét, cô quay nghiêng gọi con. Vết sẹo sau tai hiện rõ mồn một. Tim tôi đập đau đến mức tôi phải đặt tay lên ngực. Tôi gọi: “Hà!” Cô giật mình, mặt gầy xạm đi, gò má hõm sâu, nhưng đôi mắt ấy không thể nhận nhầm. Tôi gọi lần nữa, to hơn. Cô lùi lại, kéo con sát vào người, đôi mắt chỉ còn toàn sợ hãi. “Đừng bắt con tôi.” Rồi cô bỏ chạy. Túi thức ăn rơi xuống, cơm thừa văng tung tóe trong nước mưa. Đứa bé đánh rơi miếng bánh mì. Trên tờ giấy bọc có dòng chữ run run: “Nếu mẹ quên đường thì đưa mẹ về lều ông Phúc.” Nét móc chân chữ A – cái nét móc mà tôi đã nhìn thấy trên hàng nghìn lá thư Hà viết cho tôi ngày trước – giống hệt.
Tôi theo vào ngõ. Bà bán nước đầu ngõ nói hai mẹ con ngủ trong lều sau bãi ve chai của ông Phúc. Người phụ nữ ấy lúc nhớ lúc quên, sợ đàn ông lạ. Bảy năm trước, ông Phúc mang cô về khi đang mang thai, không giấy tờ, không tên tuổi. Tôi đứng ngoài tấm bạt rách, nghe tiếng trẻ ho và giọng dỗ dành khàn đi nhưng vẫn quen đến xé lòng. Qua khe hở, tôi thấy cô lấy cơm nhặt được, bỏ phần bẩn, đút cho con, còn mình chỉ uống nước cầm hơi. “Mẹ ăn rồi.” Cô nói dối như ngày xưa vẫn nhường phần ngon cho tôi. Tôi quay mặt đi vì nước mắt. Bảy năm trời tôi thắp hương với mâm cơm đầy đủ, cầu mong vợ được ấm no dưới suối vàng. Trong khi vợ tôi bằng xương bằng thịt đang nhịn đói nhường từng miếng cơm thừa cho con.
Đêm đó tôi về nhà, ngồi xuống bên mẹ, hỏi: “Bảy năm trước người trong quan tài có chắc là Hà không?” Chuỗi hạt trên tay mẹ rơi xuống nền, tiếng lạch cạch vang lên giữa căn nhà im lặng. Bà nhìn tôi, môi run run không nói được. Ngoài sân vang lên tiếng xe máy. Hoàng – anh họ tôi, người từng nhận dạng thi thể và lo toàn bộ tang lễ – bước vào.
**Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên………..**
**👇👇👇**
Tôi hỏi Hoàng: “Bảy năm trước anh có nhìn thấy mặt người trong quan tài không?” Anh nói thi thể cháy nặng, chỉ nhận qua quần áo và đồ dùng. Mẹ tôi bật khóc: “Trước ngày chôn, mẹ nhìn thấy bàn chân người trong quan tài không có vết bỏng cũ Hà mang từ nhỏ. Hoàng dặn nếu gây chuyện, danh dự và sự nghiệp của con sẽ bị hủy.” Tôi hiểu vụ tai nạn chưa khép lại.
Tôi trở lại lều. Bé An chắn cửa: “Mẹ dặn không cho người lạ vào.” Tôi đặt túi thức ăn và thuốc ở cửa. Cô xuất hiện, xanh xao, tự nhận tên Hạnh. Ông Phúc đặt vì khi tỉnh cô chỉ nhớ âm gần giống. Cô không nhớ quê quán, chồng, chỉ nhớ ánh đèn xe, tiếng mưa và mùi khét. Tôi đưa ảnh cưới. Cô ôm đầu hét: “Người trong ảnh không phải tôi!”
Ông Phúc kể đêm mưa bảy năm trước ông nhặt được cô dưới mương, mang thai, chấn thương đầu. Ba ngày sau một người đội mũ khẩu trang đến bệnh viện, nghe cô còn sống và mang thai thì bỏ đi. Người đó có vết sẹo tay giống Hoàng. Ông giữ tờ giấy cô viết trong cơn sốt: “Không được ký. Hoàng nói chỉ mượn tên. Nếu tôi không về tìm bản sao trong túi màu xanh.”
Tôi đề nghị khai quật mộ. Kết quả giám định: người trong mộ không phải Hà. Hồ sơ tai nạn thiếu ADN, biên bản nhận dạng chỉ dựa giấy tờ và lời Hoàng. Xe đứng tên doanh nghiệp liên quan Hoàng. Cán bộ nghỉ hưu nhớ có người tên Hải từ ngân hàng có mặt rất sớm.
Phong bì không người gửi đến với hợp đồng vay 32 tỷ, bảo lãnh bằng đất Hà, chữ ký mang tên Hà nhưng sau ngày khai tử ba ngày. Giám định: chữ ký giả, nhưng dấu vân tay thật. Hà từng bị ép lăn tay. Hải là cán bộ tín dụng giải ngân rồi biến mất.
Tôi gặp Hoàng. Anh thừa nhận công ty nợ, mượn tên Hà bảo lãnh. Hà phát hiện, đòi tố. Hải muốn gặp để thương lượng. Hoàng chỉ đưa cô đến điểm hẹn, không biết xe sẽ gặp nạn. Nhưng anh nhận dạng sai thi thể vì bị Hải đe dọa.
Thu Hà nhớ lại: Hoàng và Hải ép lăn tay. Cô giấu bản sao vào túi xanh. Uống nước có thuốc, tỉnh dậy trên xe bị khóa. Hoàng ngồi ghế trước. Người lái là Hải. Cô đạp ghế, cắn tay Hoàng, nhảy ra ngoài trước khi xe lao vực. Trong xe còn một phụ nữ bất tỉnh mặc áo giống cô.
Bé An tìm thấy thẻ nhớ giấu trong hộp thiếc của mẹ. Đoạn ghi âm: Hoàng thừa nhận làm giả chữ ký, Hải nói đã chuẩn bị người thế mạng và hiện trường. Video ngắn hiện mặt Hải cầm lái.
Hải đổi tên Nguyễn Thành Nam, theo dõi chúng tôi. Bé An bị dụ bắt cóc nhưng được cứu. Ngày dỗ, tôi đặt bẫy. Hải khống chế mẹ, đòi thẻ nhớ. Hoàng hợp tác. Trong nhà kho, Hải bị bắt. Hoàng khai toàn bộ. Hải tiết lộ người chết trong xe là em gái ruột Nguyễn Thị Mai, bị dùng làm vật thế mạng.
Chúng tôi cải táng chị Mai về đúng tên. Hoàng và Hải đối diện pháp luật. Tôi đưa Hà và An về nhà. Mẹ đứng ngoài cổng, nói: “Mẹ xin lỗi con.” Hà chưa gọi mẹ, chỉ khẽ gật đầu. Tôi tháo bàn thờ cũ. Cô chọn rèm xanh nhạt, nói màu ấy dễ thở. Bé An ngày đầu đi học vẫn gọi tôi là chú Quân. Tối bữa cơm đầu, em gắp cá vào bát tôi: “Bố ăn đi.” Tôi cúi mặt, nước mắt rơi. Hà đặt tay lên tay tôi. Cô chưa nhớ hết, chưa gọi được chồng, nhưng cái chạm ấy đủ để chúng tôi bắt đầu lại từ những ngày còn lại.
Căn nhà không còn khói hương cho người vẫn sống. Chỉ còn tiếng An đọc bài, tiếng mẹ dọn bát, và gió mang mùi hoa bưởi qua cửa sổ Hà mở. Bảy năm đã mất không lấy lại được. Nhưng nơi này vẫn còn người sẵn sàng nắm tay và đi tiếp.




