Nam cai ngục lặng người khi thấy em gái mất tích 20 năm đang ngồi trong tù …..
Tay tôi run bần bật khi bấm ổ khóa buồng giam số bốn. Tiếng xích sắt lạch cạch vang dọc hành lang lạnh buốt. Qua khe cửa nhỏ xíu, tôi thấy đứa em gái ruột mà cả nhà đã khóc cạn nước mắt đi tìm suốt hai mươi năm đang thu lu trong góc tường, mặc bộ quần áo sọc. Người ta làm nghề này vì tự hào giữ gìn trật tự. Còn tôi, tôi đứng gác chính em gái mình.
Tôi tên Hải. Để hiểu vì sao đêm ấy tay tôi run đến vậy, phải quay về đêm rằm tháng giêng, khi tôi mười lăm tuổi. Hội làng đông nghẹt. Bố mẹ dọn hàng nước ở đầu làng nên giao bé Ngọc năm tuổi cho tôi trông. Mẹ dặn đi dặn lại phải nắm chặt tay em. Con bé kiễng chân xem con lân đỏ, mắt sáng rỡ, rồi thấy ông bán kẹo bông gòn, giật tay tôi đòi bằng được. Tôi bảo em đứng yên ở gốc đa, anh mua kẹo rồi quay lại ngay. Chỉ ba bước chân. Chưa đầy hai phút. Tôi quay lại, cầm cái kẹo hồng gọi lớn: “Ngọc ơi, kẹo đây.” Gốc đa trống trơn.
Cái kẹo rơi xuống đất. Tôi hét đến khản giọng, chạy khắp sân đình hỏi từng người có thấy con bé áo len đỏ tết hai bên tóc không. Mười phút sau tôi mới cắm đầu chạy ra đầu làng, vừa khóc vừa gào: “Mẹ ơi, con làm mất Ngọc rồi!” Chiếc ấm đất trong tay mẹ rơi xoảng xuống nền, mặt bà trắng bệch. Cả làng đốt đuốc, lội xuống từng cái ao. Tìm đến sáng, lật tung từng đụn rơm, soi từng giếng làng, em vẫn bốc hơi như chưa từng tồn tại.
Sáng hôm sau, tôi nhìn sang nhà lão Tư sát vách. Cửa khóa trái. Người hàng xóm buột miệng: đêm qua lão dọn đồ lên xe tải nhỏ đi biệt tăm, chắc trốn nợ cờ bạc. Trong đầu tôi lóe lên một ý nghĩ đáng sợ, nhưng tôi mới mười lăm tuổi, không có chứng cứ gì.
Rồi nhà tôi sụp đổ. Mẹ nửa tỉnh nửa điên, cuộn mấy mảnh vải rách của con bé lại bế như bế trẻ, tối nào cũng ngồi bên bậu cửa hát ru. Gặp bé gái nào trạc tuổi em, bà lao vào ôm chặt gọi tên Ngọc. Bố không mắng tôi nửa lời, chính vì thế tôi càng ân hận. Ông chìm vào rượu, ba năm sau bệnh gan cướp ông đi. Tôi thi vào trường cảnh sát, xin về làm quản giáo, chỉ để tiếp xúc những kẻ buôn người, mót lấy một manh mối. Hai mươi năm, ba trại giam, không một dấu vết. Mẹ mất, tay vẫn ôm khư khư chiếc áo len đỏ.
Cho đến một sáng mùa đông, trại tôi tiếp nhận đợt phạm nhân nữ mới. Số 402, tên Hồng, án bảy năm vì cố ý gây thương tích, hồ sơ nhân thân trống trơn. Chưa đầy hai tiếng sau, cô ta cầm chậu nhựa đập vào mặt chị đại buồng giam rồi túm tóc đánh tới tấp. Tôi lôi cô ta lên phòng kỷ luật, đập bàn quát. Cô ta chỉ chậm rãi hất tóc, ngẩng lên nhìn thẳng tôi. Cây bút rơi khỏi tay tôi. Hốc mắt sâu, đuôi mắt cụp xuống ấy giống hệt mẹ tôi những năm bà ngồi hát ru cục giẻ.
Tôi nhớ ra một thứ chỉ người nhà biết. Năm ba tuổi, Ngọc ngã đập gáy vào ống pô xe máy đang nóng, để lại vết sẹo lồi cong như nửa vầng trăng khuyết. Cô tù này lúc nào cũng xõa tóc che kín gáy. Chiều thứ sáu, tôi gác trên chòi cao, lia ống nhòm xuống vườn. Nắng gắt, cô ta vơ tóc cuộn lên cho mát. Ngay chân tóc gáy bên trái, vết sẹo sậm màu cong vút, không lệch một ly. Ống nhòm tuột khỏi tay, đập vào lan can.
Tôi lao xuống như thằng điên, đứng cách cô ta năm mét, gào lên: “Ngọc ơi!” Cái cuốc rơi khỏi tay cô ta, mặt cắt không còn giọt máu. Trong phòng hỏi cung, tôi đẩy tấm ảnh gia đình ố vàng về phía cô ta. Móng tay cô ta bấu rớm máu vào lòng bàn tay, nhưng chỉ năm giây sau, cô ta nhếch mép: “Cán bộ nhận nhầm người. Tôi tên Hồng, mồ côi từ trong bụng mẹ.” Tôi đi dọc hành lang cô ta vừa qua. Trên nền xi măng, những vệt nước lốm đốm chưa khô. Nó không khóc thành tiếng, nhưng nước mắt rớt từng giọt dọc đường.
Tôi gỡ mấy sợi tóc trên chiếc lược nhựa gãy răng dưới gối cô ta, mang đi xét nghiệm. Ba ngày dài như ba thế kỷ. Dòng kết luận in đậm: cùng huyết thống, 99%. Tôi gục xuống vô lăng khóc nấc. Rồi tôi lôi hồ sơ vụ án ra đọc: hai giờ sáng, cô ta đột nhập biệt thự, mang dao gọt hoa quả dài lẻn vào phòng ngủ một người đàn ông lớn tuổi, đâm nhiều nhát, rồi ngồi yên chờ bị bắt. Nạn nhân tên Lê Văn Tư. Mấy tờ giấy rơi khỏi tay tôi. Chính là lão hàng xóm đã dọn đồ trốn ngay trong đêm hội.
Giỗ mẹ, tôi tự nấu canh mướp đắng nhồi thịt, món Ngọc thích nhất. Hồi bé nó chỉ khoét nhân thịt, còn tôi ăn nốt phần vỏ đắng. Tôi mở còng tay, múc canh ra bát nhựa: “Em ăn phần nhân đi, phần vỏ đắng để anh hai ăn nốt.” Chiếc thìa trong tay nó run lẩy bẩy, gõ lạch cạch vào thành bát. Tôi kể mẹ ôm áo len đỏ đến lúc nhắm mắt, cả làng gỡ không ra. Nước mắt nó rơi tỏng tỏng vào bát canh. Rồi chiếc thìa rơi loảng xoảng. Nó quỳ rạp xuống nền gạch, ôm chặt hai đầu gối tôi mà gào: “Anh hai ơi, em là Ngọc đây!” Khi nguôi, nó nắm tay tôi: “Anh hứa không manh động, không trả thù, nếu không em cắn lưỡi chết, không khai nửa lời.” Tôi gật, và nó bắt đầu kể.
……………………………………………
Đêm hội ấy, khi tôi quay đi mua kẹo, đám đông xô nó dạt vào lùm cây tối sau đình. Một bàn tay vỗ vai. Lão Tư cười giả lả, tay cầm cái kẹo mút: “Anh Hải nhờ bác ra đón, đi theo bác.” Trẻ năm tuổi, người hàng xóm sát vách, nó chìa tay lấy kẹo. Tay kia lão ụp miếng giẻ tẩm thuốc mê vào mũi nó. Lão trùm áo khoác bộ đội, vác như bao tải ra quốc lộ, nơi chiếc xe tải chở lợn chờ sẵn. Ba ngày đêm nó cuộn tròn dưới gầm sàn đầy phân lợn. Qua biên giới, mụ chủ định giá nó đúng ba chỉ vàng. Ba chỉ vàng, đổi lấy cả một gia đình tôi.
Mụ nhốt nó vào chuồng chó bằng sắt ngoài sân sau, trên vùng núi lạnh buốt. Nó khóc đòi anh hai thì roi mây quất xuyên kẽ sắt. Đêm rét, nó ôm con chó mẹ lấy hơi ấm. Mười sáu tuổi, mụ bán nó vào một bản sâu, làm vợ chung cho ba anh em nghèo khổ, ngớ ngẩn. Ban ngày chúng lùa nó lên nương, ban đêm xích chân vào thành giường. Có đêm nó nhìn sợi dây vắt trên xà nhà, nhưng trong đầu lại văng vẳng tiếng kẹo bông rơi lụp xuống đất và tiếng tôi gào giữa sân đình. Nó phải sống, chỉ để hỏi một câu: anh hai có cố tình vứt em đi không?
Ba năm sau, một đêm lũ quét, cả nhà cuống cuồng chạy lên đồi, vấp ngã làm tuột sợi xích. Nó cắm đầu chạy ngược xuống chân núi, ôm một thân cây chuối, để dòng nước quật vào đá, cuốn đi hàng chục cây số. Rồi nó đi bộ dọc quốc lộ ba năm, bới thùng rác, rửa bát thuê, chỉ để dò đường về. Về đến làng, nhà tôi đã thành xưởng gạch. Bà cụ thở dài: ông Tám chết vì bệnh gan, vợ ông điên dại chết rét ngoài đường. Nó lết ra nghĩa trang, cào mười đầu ngón tay bật máu lên đất mộ mẹ. Nó không dám tìm tôi: “Em bẩn thỉu lắm, anh là quản giáo, em về nhận thì sự nghiệp anh hỏng.”
Rồi một hôm, đang rửa núi bát sau hẻm nhà hàng, nó thấy chiếc xe đen bóng lộn đỗ lại. Gã béo tốt, cổ đeo dây chuyền vàng chóe bước xuống cười hoang oang. Hai mươi năm trôi qua, nó vẫn nhận ra cái giọng khê nồng ấy. Lão Tư. Nó lần theo tới biệt thự kề vựa phế liệu, chặn lão ngay cổng. Lão chỉ nhếch mép: “Ô kìa, bé Ngọc nhà ông Tám. Chưa chết à?” Nó gào sẽ lên công an. Lão ghé tai rít: “Tao nghe thằng Hải, anh cưng của mày, đang làm quản giáo. Mày dám kiện, tao thuê người chặt gân tay gân chân nó.”
Nó đi vạ vật suốt đêm, mua con dao gọt hoa quả. Hai giờ sáng hôm sau, nó leo ống nước vào biệt thự, cố tình gõ dao vào thành giường cho lão tỉnh, kề dao vào cổ lão, rít qua kẽ răng: “Mày cướp đời tao thì được, nhưng đòi chặt chân tay anh Hải thì tao cho mày xuống lỗ trước.” Ba nhát. Nó không chạy dù có thể leo cửa sổ. “Em ở lại cho thành án hình sự có hồ sơ. Lão tàn phế rồi, không hại anh được nữa.” Nó dùng nhà tù làm chiếc khiên che cho tôi suốt bảy năm.
Tôi tự tát vào mặt mình. Tôi cởi bộ cảnh phục, treo vào góc tủ rồi khóa lại, nhận tạm nghỉ việc. Tôi lên biên giới, bị gã xăm trổ kề mã tấu vào cổ, ngủ ghế đá bến xe hai mươi tám ngày để tìm bà Thoa, người vợ hờ cũ của lão Tư. Trong túp lều bạt cạnh bãi rác, bà nằm thoi thóp vì ung thư phổi, máu lấm tấm trên chăn. Tôi đút cho bà từng thìa cháo, rồi nói thật nhẹ tôi là anh trai bé áo len đỏ. Bà khóc: “Đêm đó tôi đứng cảnh giới đầu ngõ cho ông Tư.” Bà ấn ngón tay run rẩy vào mực đỏ điểm chỉ, rồi dúi vào tay tôi chiếc vòng bạc khắc hai con cá chép, thứ mẹ tôi đặt đánh riêng cho Ngọc dịp thôi nôi.
Nhưng tờ giấy của người sắp chết chưa đủ. Tôi bơm cho thằng con cờ bạc của lão một tin vịt: bố mày buôn người trúng hũ vàng, giả bệnh để tẩu tán. Tối đó tôi nấp dưới cửa sổ phòng lão, bấm máy ghi âm. Thằng con đập bàn gào đòi vàng. Lão gầm lên: “Vàng đâu ra! Hai mươi năm trước tao bán con ranh Ngọc được đúng ba chỉ vàng!” Tôi bước vào bật lại đoạn ghi âm. Lão chồm tới giật máy, ngã nhào xuống nền gạch. Nhưng khi hiểu tôi đã nắm thóp, lão cười sằng sặc: “Tội buôn người hết thời hiệu rồi. Con em mày đâm tao, nó vẫn phải đi tù.” Nắm đấm tôi giơ lên, rồi buông xuống.
Người thầy cũ của tôi chỉ ra kẽ hở: dùng chính những bằng chứng ấy để đổi tội danh của Ngọc sang cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, bởi nạn nhân đã đe dọa người thân duy nhất của nó. Phiên phúc thẩm chật kín người. Lão ngồi xe lăn, vẫn vênh mặt. Ngọc bám tay vào vành móng ngựa, kể hết hai mươi năm, vạch cổ áo cho hội đồng xem từng vết roi. Tiếng quạt trần xè xè, vị hội thẩm cũng tháo kính lau nước mắt. Lão vục mặt xuống ngực, không dám ngẩng lên. Tòa tuyên hai mươi bốn tháng tù, trừ thời gian tạm giam, chưa đầy một tháng nữa em được tự do.
Sau phiên tòa, thằng con cùng vợ bé của lão giả giấy ủy quyền, bán sạch vựa phế liệu và biệt thự lúc lão tai biến nằm viện rồi trốn biệt. Lão bị đưa về căn nhà trọ lợp tấm lợp, liệt toàn thân, ruồi muỗi bâu kín, ú ớ như gọi ai mà không thành tiếng. Tôi nghe kể mà chẳng thấy hả hê.
Sáng em ra tù, trời nắng vàng dù đã giữa đông. Tôi đứng ôm bó cúc trắng, loài hoa mẹ thích, trước cổng sắt. Cánh cổng lạch cạch mở. Ngọc bước ra trong bộ đồ dân sự, tóc buộc cao, lộ vết sẹo nửa vầng trăng. Nó bước qua vạch sơn vàng, rúc đầu vào ngực tôi: “Anh hai, hôm nay trời ấm quá.” Tôi chỉ nói được: “Về nhà thôi em.”
Tối ấy tôi nấu lại canh mướp đắng. Nó vừa nhai vừa khóc, bảo từ nay nó sẽ ăn cả phần vỏ đắng. Tôi gắp phần nhân thịt sang bát nó như ngày xưa, rồi nhìn hai chiếc ghế bên cạnh, nơi bố mẹ tôi không còn ngồi nữa. Ngoài hiên gió lùa qua, và đâu đó trong đầu tôi vẫn vang tiếng gọi “Ngọc ơi” của mình, hai mươi năm trước, giữa sân đình.




