Tưởпg Bắt Nạt Dȃп TҺườпg, C.S Ăп \”Lιȇп Hoàп Cước\” Từ Nữ Đặc Cȏпg – Kết TҺúc Caү Đắпg!…
Tôi vẫn còn nhớ như in cái buổi chiều tháng Sáu nóng rực, oi bức đến mức không khí như đặc quánh lại. Tiếng khóc van xin của người cha và tiếng gào thét tuyệt vọng của người mẹ vang vọng giữa quán cà phê ven quốc lộ, khiến tim tôi thắt lại từng cơn. Gã cảnh sát giao thông mặt lạnh tanh giật phắt chìa khóa xe máy cũ kỹ khỏi tay người đàn ông gầy guộc. Đứa bé trai chừng năm tuổi trên tay người mẹ đang co giật dữ dội, mắt trợn ngược, miệng sùi bọt mép, hơi thở yếu dần từng giây một. Mọi người trong quán chỉ dám nhìn trộm, không ai dám lên tiếng. Còn tôi, ngồi lặng lẽ ở góc khuất với ly cà phê đá đã tan nước, siết chặt tay dưới bàn đến run lên. Lúc đó tôi không hề biết rằng, chính khoảnh khắc ấy sẽ thay đổi cả một đoạn đường ven biển, và thay đổi luôn cả cách tôi nhìn nhận về đồng phục mà mình đang mang.
Tôi là Lê Khánh Vi, đại úy đặc công hải quân, nhưng hôm ấy tôi chỉ là một cô gái mặc áo phông đen cũ kỹ, quần jean rách, đội mũ lưỡi trai sụp xuống che nửa khuôn mặt. Tôi đang nghỉ phép về thăm mẹ ở thành phố biển Phú Sa. Mẹ tôi vừa phẫu thuật tim cách đây hai tuần, bác sĩ dặn phải nghỉ ngơi tuyệt đối, không được lo lắng gì. Cha tôi hẹn mang ít hải sản khô từ quê lên, tôi ngồi chờ trong quán cà phê máy lạnh này đã gần một tiếng. Cái nắng rát bỏng dội xuống con đường quốc lộ ven biển, xe cộ chạy vèo vèo. Tôi chỉ muốn uống ly cà phê, đợi cha đến rồi về nhà với mẹ. Không can thiệp, không dính líu. Kỷ luật huấn luyện của tôi dạy thế. Nhưng đời không cho phép tôi ngồi yên.
Từ góc quán, tôi đã quan sát gã thượng úy Trần Hoàng Nam – hay Nam Độ như dân trong vùng gọi – suốt một tiếng đồng hồ. Hắn ngồi phe phẩy tập biên bản, tay cầm máy bắn tốc độ, hất hàm ra lệnh cho hạ sĩ Phong lính mới chạy ra vẫy xe. Mười hai chiếc xe bị dừng, không một biên bản nào được lập. Tiền phong bì bay vào hộp sắt trên bàn hắn. Xe du lịch chở khách nước ngoài, xe tải, xe con biển lạ… ai cũng phải “giải khát” cho “anh em”. Hắn cười khẩy, mặt vênh lên như vua đoạn đường. Tôi thở dài, tự nhủ: “Đây không phải việc của mình. Mình đang phép, mẹ đang chờ.” Nhưng lúc đó tôi không hề biết rằng, sự vô cảm của hắn không chỉ dừng lại ở tiền bạc, mà nó sắp đẩy một gia đình đến bước đường cùng, và vô tình kéo cả tôi vào một cơn bão lớn hơn nhiều.
Chiếc xe máy Dream cũ nát lao qua vạch kẻ đường, không mũ bảo hiểm, không gương. Nam Độ nhíu mày, ra lệnh Phong vẫy vào. Người đàn ông lái xe gầy guộc, mặt hoảng hốt, là anh Hùng – sau này tôi mới biết tên. Chị Lan ngồi giữa ôm chặt đứa con trai tên Minh, mặt đỏ bừng, thở dốc. Họ từ xã bên lên tỉnh, con sốt cao từ sáng, bệnh viện huyện không chữa được. Anh Hùng run run đưa giấy tờ, giọng van xin thảm thiết: “Anh ơi, con em nó co giật, em đưa lên viện gấp… Em chỉ còn năm trăm ngàn tiền viện phí…”
Nam Độ không ngẩng đầu, gõ gõ dùi cui vào xe: “Không mũ, không gương, lỗi nặng. Giữ xe một tuần, phạt hai triệu.” Chị Lan bật khóc, nhảy xuống ôm chân hắn, nước mắt giàn giụa: “Anh làm ơn, con em chết mất!” Anh Hùng lục túi đưa nắm tiền lẻ nhầu nát: “Anh tha cho, đây là hết rồi…” Nam Độ cười nhạt, giật phắt chìa khóa: “Năm trăm? Mày mua chuộc tao à? Không tiền thì biến, không tao giữ cả hai đứa bây giờ!”
Đứa bé Minh đột nhiên giật nảy người, mắt trợn ngược, tay chân co quắp. Chị Lan hét lên xé lòng, tiếng khóc vang cả quán khiến tôi rùng mình: “Con ơi! Con ơi!” Mọi người xôn xao nhưng không ai dám lại gần. Họ sợ Nam Độ. Tim tôi đập thình thịch, ký ức về những buổi huấn luyện cứu hộ ùa về. Tôi không nhịn được nữa. Tôi đứng dậy, bước chậm rãi đến bên chị Lan. Giọng tôi bình tĩnh, dù cổ họng nghẹn đắng: “Chị đặt cháu nằm nghiêng, nới quần áo ra.” Tôi quỳ xuống sàn gạch nóng, hai ngón tay bấm mạnh vào huyệt nhân trung. Đứa bé giật một cái mạnh, miệng há ra, thở dốc trở lại. Cơn co giật dịu dần. Chị Lan sững sờ nhìn tôi, nước mắt giàn giụa không ngừng: “Cô… cô cứu con tôi…”
Nam Độ trợn mắt, giọng gằn: “Mày là ai? Dân luật à? Cản trở công vụ!” Hắn vung dùi cui định đẩy tôi. Trong khoảnh khắc, tay tôi chụp lấy cổ tay hắn, xoay nhẹ theo lực. Một tiếng kêu khô khốc vang lên. Hắn gập người xuống, tay bị bẻ quặt ra sau lưng. Phong rút súng cao su run rẩy, nhưng tôi nhìn thẳng vào hắn: “Cậu bắn dân thì đi tù vì lạm dụng vũ khí. Hai anh chị đi bệnh viện ngay đi!” Anh Hùng và chị Lan vội vàng bế con lên xe, nổ máy phóng đi. Tôi buông tay Nam Độ. Hắn lảo đảo, mặt trắng bệch vì đau và giận dữ: “Mày chết chắc rồi! Tất cả chốt, bắt con nhỏ áo đen này!”
Tôi ngồi yên trở lại ghế, nhưng lòng đã không yên. Lúc đó tôi chưa biết rằng, hành động của tôi không chỉ cứu một đứa trẻ, mà còn chạm vào một ổ nhóm làm luật đã tồn tại bao năm. Siren hú vang từ xa. Ba xe cảnh sát phản ứng nhanh lao tới. Sáu cảnh sát cơ động mặc giáp, cầm khiên súng nhảy xuống. Nam Độ chỉ tay: “Nó tấn công tao, giải cứu tội phạm! Bắt nó!”
Tôi đứng dậy, giọng vẫn bình thản dù tim đập loạn: “Tôi là đại úy Lê Khánh Vi, số hiệu 238.15, đơn vị Z đặc công hải quân. Tôi đang nghỉ phép.” Họ khựng lại. Nam Độ cười phá: “Mày mạo danh quân đội! Bắt nó, chống cự thì bắn!” Hai chiến sĩ ập tới. Trong mắt tôi, mọi thứ chậm lại như huấn luyện. Tôi lách người, dùng lực khiên đẩy nhẹ cùi trỏ một người, anh ta lao ngã. Người kia quật dùi cui, tôi quét chân chính xác. Hai người ngã trong chưa đầy ba giây. Tôi phủi bụi: “Tôi không muốn làm anh em bị thương. Kiểm tra thẻ của tôi đi.”
Viên trung úy dẫn đầu giơ súng: “Giơ tay lên!” Tôi thò tay vào túi, ném tấm thẻ quân nhân đỏ sẫm xuống đất. Lúc này, căng thẳng lên đến đỉnh điểm. Nam Độ mặt cắt không còn giọt máu, điện thoại hắn reo liên hồi. Hắn bắt máy, giọng trường phòng gầm lên trong loa: “Mày đụng vào ai rồi hả Nam? Tư lệnh vùng bốn hải quân gọi thẳng cho giám đốc tỉnh!” Tôi đứng yên, nhìn đám đông bắt đầu xì xào. Nhưng điều sắp xảy ra mới thực sự khiến cả thành phố Phú Sa rung chuyển…
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY
Đại tá Vũ – trưởng ban thanh tra công an tỉnh – bước xuống từ chiếc xe con biển số xanh, mặt nghiêm nghị. Ông không nhìn Nam Độ, mà đi thẳng đến tôi: “Khánh Vi, lâu không gặp cháu. Lại làm chú phải chạy tới.” Viên trung úy cảnh sát cơ động xác minh xong thẻ, đứng nghiêm chào: “Báo cáo đại úy, em xin lỗi đồng chí!” Nam Độ ngã phịch xuống ghế, mặt tái mét. Hắn không ngờ, cô gái áo đen ngồi uống cà phê lại là nữ đặc công duy nhất của hải quân – người mà hắn vừa định “xử” trước mặt đám đông.
Tôi không cười. Lòng tôi lúc này chỉ toàn sự mệt mỏi và thương xót sâu sắc. Nước mắt tôi едва kìm được khi nghĩ đến mẹ đang nằm một mình ở nhà. Tôi quay sang hạ sĩ Phong: “Cậu giữ camera hành trình đi, nộp cho ban thanh tra. Đó là bằng chứng.” Phong run run tháo camera, bước tới giao cho Đại tá Vũ. Nam Độ lẩm bẩm: “Các người… gài tôi…” Đại tá Vũ lắc đầu: “Không ai gài anh. Lòng tham của anh tự chui vào bẫy. Cháu Vi chỉ vô tình châm ngòi, nhưng chú đã theo dõi anh và cả đường dây này lâu rồi.”
Hóa ra, suốt một tiếng tôi ngồi quan sát, camera giám sát giao thông (mà Nam Độ tưởng hỏng) đã ghi lại tất cả. Đại tá Vũ cười buồn: “Chú để ý hắn lâu, nhưng thiếu bằng chứng cụ thể. Hôm nay nhờ cháu, cả trưởng phòng, phó phòng và ba đội trưởng đều bị kéo theo.” Nam Độ bị hai cảnh sát hình sự áp giải lên xe. Hắn nhìn tôi lần cuối, mắt đầy sợ hãi và hối hận. Tôi không nói gì. Tôi chỉ nghĩ đến đứa bé Minh đang trên đường đến viện, tim nhói đau khi nhớ tiếng khóc của chị Lan.
Chiều hôm ấy, tôi đến bệnh viện tỉnh. Anh Hùng và chị Lan thấy tôi bước vào, sững sờ, định quỳ xuống. Tôi vội đỡ, giọng nghẹn ngào: “Đừng, anh chị làm gì vậy? Con Minh sao rồi?” Chị Lan khóc nức nở, ôm tôi thật chặt: “Nhờ cô… Cháu qua cơn nguy kịch rồi. Bác sĩ bảo chậm nửa tiếng nữa là nguy.” Tôi nhìn đứa bé nằm ngủ, mặt đã hồng hào trở lại. Tim tôi nhói lên dữ dội. Tôi thò tay vào túi, đưa phong bì: “Đây năm triệu tiền lương phép của tôi. Anh chị cầm lo cho cháu. Tôi xin lỗi… vì đã để những kẻ như hắn mặc áo lính làm khổ anh chị.” Anh Hùng cầm phong bì, nước mắt lưng tròng: “Cô là ân nhân của nhà em…”
Tôi về nhà khi trời đã tối mịt. Cha tôi – ông Hải, ngư dân da đen sạm vì nắng gió – đang ngồi ngoài hiên lo lắng, mùi cá khô thoang thoảng. “Con có chuyện gì? Tay con bầm tím kìa.” Tôi cười, ôm cha thật chặt, nước mắt lặng lẽ rơi: “Không sao đâu cha. Con gặp bạn cũ, giúp một gia đình thôi.” Mẹ tôi trong phòng ngủ, tiếng thở đều đều qua lớp khẩu trang oxy. Tôi ngồi bên mẹ, nắm tay bà lạnh ngắt, nước mắt rơi không kìm được. Mẹ vừa mổ tim, tôi về phép để chăm bà, vậy mà lại dính vào chuyện này. Nhưng nếu không can thiệp, lương tâm tôi sẽ day dứt mãi mãi.
Đại tá Vũ đến nhà tôi tối hôm đó, xách giò trái cây. Ông ngồi với tôi ngoài hiên gió biển mặn mòi: “Cháu giúp chú dọn rác lớn đấy. Nhờ cháu mà cả đường dây làm luật tan tành. Hạ sĩ Phong được chuyển đơn vị, giữ lại ngành nhờ dũng cảm.” Tôi lắc đầu, giọng run run: “Chú đừng cảm ơn cháu. Cháu chỉ nổi nóng. Lần sau cháu sẽ gọi chú trước.” Ông cười: “Các cháu đặc công đúng khác người. Cú bẻ tay làm thằng Nam gãy xương. May mà cháu nương tay.” Chúng tôi cười buồn. Ông nhắc: “Mai cháu đi gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở Nam Sudan rồi phải không? Nơi đó nguy hiểm lắm.” Tôi gật đầu, mắt nhìn ra biển đêm: “Cháu là lính, phải đi thôi chú. Con trai làm được, con gái cũng làm được.”
Sáng hôm sau ở sân bay Phú Sa, cha mẹ tiễn tôi. Tôi mặc lại bộ đồ dân thường, ba lô con cóc, mũ lưỡi trai. Mẹ khóc nức nở, ôm tôi không buông: “Con giữ gìn sức khỏe.” Cha vỗ vai, giọng trầm ấm: “Lo cho mày ế chứ không lo gì khác.” Tôi cười qua nước mắt, ôm cha mẹ thật chặt. Khi đi qua cổng an ninh, tôi liếc thấy Đại tá Vũ đứng xa xa, giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi gật đầu, không nói gì. Tôi bước vào, biến mất trong dòng người.
Câu chuyện về “cô gái áo đen” lan nhanh trên mạng. Clip quán cà phê, camera hành trình của Phong được chia sẻ khắp nơi. Người dân Phú Sa thở phào, các chốt làm luật biến mất. Đường quốc lộ ven biển bớt tai nạn, bớt sợ hãi. Nhưng tôi biết, công lý không phải lúc nào cũng đến dễ dàng. Nó đòi hỏi ai đó phải đứng lên, dù chỉ là một cô gái đang nghỉ phép thăm mẹ.
Bây giờ, trên chuyến bay đến Nam Sudan, tôi ngồi nghĩ lại tất cả. Đứa bé Minh đã khỏe, anh Hùng chị Lan nhắn tin cảm ơn mỗi ngày. Nam Độ và đường dây của hắn bị truy tố. Nhưng tôi vẫn thấy tiếc nuối. Tiếc cho những người lính như Nam Độ đã tha hóa quyền lực. Tiếc cho những gia đình nghèo như nhà anh Hùng phải chịu đựng. Và tiếc cho chính mình – một nữ đặc công, con gái ngư dân, lúc nào cũng phải rời xa cha mẹ để làm nhiệm vụ. Cuộc đời lính là vậy. Không hoàn hảo, nhưng phải sống cho đúng. Tôi nhắm mắt, hít sâu. Biển Phú Sa xa dần phía sau. Phía trước là sa mạc, là nhiệm vụ mới. Nhưng ký ức về tiếng khóc của chị Lan, nụ cười của Minh, và ánh mắt sợ hãi của Nam Độ sẽ theo tôi mãi. Đó không chỉ là một buổi chiều nóng bỏng. Đó là ngày tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết: công lý đôi khi bắt đầu từ một ly cà phê ven đường, và từ một quyết định không ngồi yên.
Lưu ý: Nội dung bài viết được hỗ trợ thực hiện bởi công nghệ trí tuệ nhân tạo, những tình huống, nhân vật trong câu chuyện hoàn toàn là hư cấu, nhằm mục đích răn dạy những quan điểm, góc nhìn về cuộc sống. bài viết không nhắm đến bất kỳ cá nhân, tổ chức nào!





