Tôi đang lúi húi chan nước lèo vào tô bún riêu cho khách quen thì tiếng cháu nội vang lên: “Bà ơi, có bác mặc vest đứng nhìn bà hoài kìa!”. Tôi ngẩng đầu lên, mồ hôi nhễ nhại vì nắng Sài Gòn chang chang. Một người đàn ông trung niên, khoảng hơn bốn mươi tuổi, mặc vest đen cắt may sang trọng, đứng sững ngay giữa hẻm. Tay ông run run rút từ trong ví da một chiếc vòng bạc nhỏ xíu. Ánh nắng chiếu vào hai chữ khắc mờ “Đạo 72”, lóe lên như dao cứa vào tim tôi.
Tim tôi thắt lại, nghẹn họng không thở nổi. Chân tay lạnh buốt. Tôi buông cái vá nước lèo, suýt đánh rơi. Người đàn ông ấy nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe, run rẩy như đang kìm nén cả một đại dương nước mắt. Lúc đó tôi không hiểu gì hết. Chỉ cảm thấy một nỗi sợ hãi mơ hồ xen lẫn hy vọng điên cuồng ùa đến. Tôi đâu biết rằng, khoảnh khắc ấy chính là khoảnh khắc thay đổi cả cuộc đời tôi sau hơn bốn mươi năm dài đằng đẵng chờ đợi trong tuyệt vọng.
Tôi là Trần Thị Hạnh, năm nay đã ngoài bảy mươi. Hơn bốn mươi năm nay, tôi bán bún riêu ở con hẻm nhỏ quận 10 này. Mỗi sáng từ ba giờ, tôi dậy đẩy xe ra, chan nước lèo thơm phức, gọi khách với giọng khản đặc vì khói than. Cuộc đời tôi chỉ còn hai thứ: gánh hàng rong và nỗi nhớ con trai đầu lòng da diết không nguôi.
Năm 1972, tôi mới hai mươi mốt tuổi. Tôi yêu một người lính biệt động tên Minh. Anh hay đọc thơ cho tôi nghe dưới ánh đèn dầu leo lét, nói tiếng Pháp sõi sành, tay anh vuốt ve má tôi dịu dàng giữa những đêm bom đạn. Chúng tôi yêu nhau trong loạn lạc. Rồi anh nhận lệnh đi công tác, một tháng sau tin về: anh bị phục kích, mất tích. Tôi mang thai một mình. Cả xóm xì xào, kỳ thị. Họ gọi tôi là “con gái không chồng”, gọi con trong bụng là “con lai phản động”. Không ai cho ở trọ, không ai thuê làm. Tôi phải sống trong căn nhà lá rách ven kênh, nhặt rau khoai, nấu cháo loãng, khâu bao bố làm tã.
Đạo sinh ra ngày 17 tháng 3 năm 1972. Đứa bé kháu khỉnh, cặp mắt tròn xoe giống cha, hay cười toe toét và ôm cổ tôi mỗi đêm. Tôi đặt tên con là Đạo, mong con lớn lên làm người ngay thẳng, không uốn cong vì đời. Những năm tháng ấy, tôi chỉ mong có nồi cơm nóng và mái nhà không dột. Nhưng chiến tranh cướp hết. Năm 1975, Đạo lên ba. Tôi chỉ còn vài ký gạo. Con sốt cao ba đêm liền, co giật, tôi không có đồng nào mua thuốc. Một bà bán hàng ở chợ giới thiệu trung tâm trẻ em Ngã Bảy. Họ nhận nuôi những đứa trẻ mồ côi hoặc cha mẹ không nuôi nổi.
Tôi bế con đi bộ hơn mười cây số dưới nắng cháy da. Suốt đường đi, nước mắt tôi rơi nóng hổi. Con nằm trong lòng tôi, nhỏ bé, mệt mỏi, thỉnh thoảng kêu “mẹ ơi…”. Đến nơi, tôi nói dối rằng mình bệnh nặng, không nuôi được con. Khi nhân viên bế Đạo đi, con khóc oe oe, giãy giụa gọi “mẹ ơi mẹ ơi”. Tôi chạy theo đến cổng, tim như bị xé toạc. Tôi muốn lao vào ôm con lại, nhưng nếu giữ con, cả hai mẹ con sẽ chết đói. Trước khi họ đưa con lên xe, tôi nhét chiếc vòng bạc khắc “Đạo 72” vào gấu áo con. Đó là thứ duy nhất tôi có thể để lại.
Về nhà, tôi khóc suốt ba ngày ba đêm. Mùi khói bếp, vị mặn của nước mắt, cái lạnh buốt của nền đất ẩm, tất cả vẫn còn nguyên trong ký ức. Sau này nghe tin nhiều đứa trẻ được đưa sang Mỹ trong chiến dịch Baby Lift, tôi nghĩ con đã mất. Mỗi năm Vu Lan, tôi cúng một bát cơm trắng với quả trứng luộc, khấn thầm: “Con ơi, nếu còn sống thì hãy hạnh phúc, nếu đã mất thì xin yên bình bên kia thế giới.”
Tôi chuyển vào Sài Gòn, bán bún riêu ven hẻm để sống qua ngày. Mỗi lần thấy đứa trẻ khoảng tuổi Đạo chạy qua, tim tôi lại nhói đau. Tôi không lập gia đình nữa. Chỉ lặng lẽ chờ đợi, dù không dám hy vọng………..
Tôi đứng lặng như hóa đá. Chiếc vòng bạc nằm trong lòng bàn tay run rẩy của tôi. Chữ “Đạo 72” vẫn sắc nét như ngày nào. Người đàn ông kia nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghẹn ngào: “Cô có từng gửi một đứa bé tên Đạo vào trung tâm Ngã Bảy năm 1975 không?”
Nước mắt tôi trào ra không kìm được. Cả quán bún riêu im bặt. Khách hàng ngừng ăn, nhìn chúng tôi. Tôi lắp bắp…………
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
: “Có… tôi từng có một đứa con trai tên Đạo…”
Ông ta quỳ một chân xuống, giọng run run: “Tôi là Đạo. Con chính là thằng bé mà mẹ đã đưa đi năm đó.”
Tôi lảo đảo, hai chân mềm nhũn. Tay tôi chạm vào khuôn mặt ông, vuốt ve từng đường nét. Da mặt ông ấm áp, có những nếp nhăn thời gian nhưng đôi mắt vẫn là đôi mắt của Đạo ngày xưa. Không thể nào… Sau bốn mươi năm tưởng đã mất, con trai tôi còn sống? Tôi quỵ xuống đất, khóc nức nở. “Trời ơi Đạo ơi… Mẹ tưởng con đã chết rồi… Mẹ xin lỗi con… Mẹ hèn nhát quá…”
Con trai tôi – Trần Minh Đạo, giờ là Y Thường Trần – cúi xuống ôm chặt tôi. Lần đầu tiên sau bốn mươi năm, tôi được ôm con. Mùi nước hoa sang trọng trên vest đen hòa quyện với mùi bùn đất, mùi cá kho, mùi khói than quen thuộc của hẻm. Chúng tôi khóc như hai đứa trẻ lạc nhau giữa dòng đời. Tim tôi đập thình thịch, đau đớn xen lẫn hạnh phúc đến mức nghẹt thở.
Con đưa tôi ra quán cà phê gần đó. Không khí máy lạnh se lạnh làm tôi run lên. Con kể hết. Con được đưa sang Mỹ, được một gia đình giàu có nhận nuôi. Con lớn lên giữa tiện nghi, học hành xuất sắc, trở thành CEO công ty trí tuệ nhân tạo định giá hàng tỷ đô la. Nhưng con luôn cảm thấy thiếu thốn, luôn mơ về một người mẹ ở Việt Nam. Con tìm tôi suốt mười năm, qua hồ sơ cũ, kiểm tra ADN, đăng tin khắp miền Tây, thuê thám tử.
Con đưa ra tờ giấy tiếp nhận trẻ em năm xưa, bức ảnh tôi thời trẻ bên xe đạp gánh hàng. Tất cả đều khớp. Ba ngày sau chúng tôi làm xét nghiệm ADN. Kết quả: 99,999% là mẹ con ruột thịt. Tôi khóc suốt, xin lỗi con vì đã “bỏ” con. Con nắm tay tôi chặt, nước mắt lăn dài: “Mẹ không bỏ con. Mẹ đã cho con cơ hội sống. Con biết ơn mẹ nhiều lắm.”
Những ngày sau, con thuê phòng trọ gần hẻm. Sáng sớm con dậy phụ tôi đẩy xe bún riêu. Con ăn cá kho, canh chua, rau muống luộc tôi nấu với vẻ hạnh phúc như chưa từng được ăn. Con kể con lớn lên giữa tiện nghi nhưng đêm nào cũng mơ về mẹ, về mùi khói bếp, về giọng ru êm ái. Con từng nghĩ mình là đứa trẻ không có nguồn cội.
Tôi kể cho con nghe những năm tháng cô đơn, cúng cơm Vu Lan, những đêm khóc thầm vì nhớ con. Chúng tôi ngồi bên nhau đến khuya, kể chuyện không ngớt. Con muốn đưa tôi sang Mỹ nhưng giấy tờ thời chiến tranh thiếu sót quá nhiều. Con thuê luật sư chạy khắp nơi. Rồi tôi đột ngột bị cao huyết áp, suýt đột quỵ. Con ở lại chăm sóc, thuê y tá, ngày nào cũng ngồi bên giường bệnh, lau mồ hôi, đút cháo cho tôi ăn. Mùi thuốc bệnh viện, tiếng máy theo dõi tim, cái lạnh của phòng bệnh, tất cả đều trở nên ấm áp vì có con bên cạnh.
Trước khi con về Mỹ lo công việc, tôi viết thư cất vào balo con: “Mẹ không mong gì nữa. Mẹ đã được ôm con rồi. Con sống tốt là mẹ mãn nguyện.” Nhưng con quay lại. Con dẫn vợ và hai cháu nội về. Daniel và cháu bé ôm tôi, líu lo gọi “bà nội”. Tôi khóc vì hạnh phúc tột độ, nước mắt nóng hổi lăn dài trên má nhăn nheo.
Giờ tôi vẫn bán bún riêu ven hẻm, nhưng con đã lo cho tôi cuộc sống tốt hơn: sửa nhà, mua xe đẩy mới, gửi tiền định kỳ. Mỗi cuối tuần con gọi video. Tôi nhìn con trai thành đạt, nhìn hai cháu nội kháu khỉnh, lòng nhẹ nhõm lạ thường.
Bốn mươi năm xa cách. Bốn mươi năm chờ đợi trong đau đớn. Tôi từng nghĩ mình là người mẹ tồi tệ nhất trên đời. Nhưng con nói: “Mẹ là người mạnh mẽ nhất con từng biết.”
Tôi ngồi ven hẻm, nhìn gánh hàng cũ kỹ, nước mắt lăn dài. Cuộc đời thật lạ lùng. Chiến tranh cướp con tôi đi, bom đạn chia cắt, nghèo đói buộc tôi phải đưa con vào trung tâm. Nhưng tình mẫu tử thiêng liêng đã đưa con về. Tôi là bà Hạnh, người mẹ bán bún riêu ven hẻm Sài Gòn. Và tôi đã tìm lại được con trai sau bốn mươi năm xa cách. Dù mai này có ra sao, tôi cũng mãn nguyện.





