Từ kẻ thù trên chiến trường đến người vợ trong đời …………..
—
Tôi kéo tay áo cô gái lên, làn da trắng nõn hiện ra dưới ánh nắng xuyên qua tán lá. Cô nhăn nhó, xuýt xoa. Tôi bật cười: “Đi lính bị thương không đau, chỉ có kim bé tí tẹo này mà cô nhăn nhó rên rỉ như sao ấy?” Cô cướp lời: “Ông anh nói như khỉ chứ gì?” Tôi cười trừ, đỡ cô nằm xuống ngay ngắn trên mái tàu lá chuối. Tôi không biết rằng chỉ một hành động nhỏ ấy – kéo tay áo cô lên để tiêm thuốc – đã khiến trái tim cô rung động và thay đổi cả cuộc đời của hai kẻ thù trên chiến trường.
Tôi tên là Trần Hoài Lâm, lính của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Hôm đó, sau ba ngày quần thảo ác liệt với địch quân, chúng tôi mới chiếm được mục tiêu ở tỉnh Bến Tre. Đơn vị chủ lực của địch bị xóa sổ, nhưng tiểu đoàn tôi cũng thiệt hại nặng. Trung đội của tôi được lệnh dọn dẹp chiến trường, kiểm tra từng hầm hố, từng công sự. Cảnh tượng tan hoang, đổ nát, những thân cây dừa bị mảnh đạn pháo băm nát, mùi thuốc súng nồng nặc. Tôi cẩn thận từng bước trên bờ mương nhỏ, tay cầm khẩu M16 đã lên đạn. Bỗng người lính mang máy truyền tin đi cùng tôi nói nhỏ: “Ông thầy, hình như có người trong lùm cây đằng kia.” Tôi ra lệnh cho anh ta dàn rộng ra, quan sát xung quanh và coi chừng bẫy. Kinh nghiệm chiến trận cho tôi biết không bao giờ hấp tấp trước mọi tình huống – có thể địch gài mìn hoặc giả vờ bị thương để dụ chúng tôi đến gần rồi sát hại. Tôi dùng ngón tay ra hiệu, chỉ vào lùm cây rậm. Thằng Kính, người lính đi cùng tôi, cầm súng sẵn sàng. Tôi lấy mũi súng gạt đám lá sang một bên và thấy một cô gái chừng 18-19 tuổi nằm gối đầu trên ba lô màu tím, vài vết thương trúng đạn, máu tuôn ra ướt đẫm. Mắt cô nhắm nghiền, miệng vẫn rên rỉ: “Nước… nước cho tôi… miếng nước…”
Tôi không chần chừ. Việc đầu tiên là phải cầm máu. Tôi lấy băng cá nhân lau vết thương, dùng dao cắt khoanh áo trên vai cô, đỡ cô ngồi dựa vào người tôi. Tôi bảo Kính: “Mày băng dùm tao, nhớ nhẹ tay, không thì thằng cha này quá gặp em con nhỏ này tiêu đời.” Kính rửa băng trong im lặng. Đúng lúc đó, cô gái mở mắt, gượng nói: “Tôi xin miếng nước…” Thằng Kính cáu tiết: “Đồ địch quân, mày còn đòi nước? Tao…” Tôi cắt lời Kính, nhìn thẳng vào mắt cô gái: “Mày đừng nói như vậy với một người sắp sửa chết. Đừng nuôi thù hận nữa. Mày ra ngoài trong rừng cho tao đi.” Tôi lấy chiếc khăn tay màu tím cột trên vai cô – một dấu hiệu nhận diện của đơn vị tôi – rồi rót nước từ bình tông, lau nhẹ trên mặt cô. Trong giây lát, tôi nhận ra vẻ đẹp của cô. Khuôn mặt thanh tú với hàng mi cong vút, sống mũi cao, dù trắng xanh vì mất máu nhưng cô vẫn có nét thu hút đặc biệt. Tôi đưa bình nước vào miệng cô, nói nhỏ: “Có uống đi, nhớ từ từ từng chút một.” Cô ngoan ngoãn nghe lời như một em bé: “Cảm ơn ông nhiều.” Giọng nói yếu ớt và mệt mỏi. Tôi đáp: “Tôi sẽ tìm cho cô hai mũi thuốc trụ sinh và cầm máu, cố chịu đau nghe.” Cô từ chối: “Không cần đâu, làm phiền ông nhiều rồi, và lại tôi cũng sắp chết đến nơi.” Tôi cười: “Vết thương này đâu có gì nguy hiểm, đừng an ủi như vậy. Hồi nãy ông nói tôi sắp chết, đừng nuôi hận thù nữa.” Cô mở mắt nhìn tôi với vẻ cảm kích, đôi mắt chứa nhiều điều muốn nói. Một lúc lâu cô mới nói: “Thôi, bây giờ ông sẽ làm gì với tôi? Một phát súng có lẽ nhẹ nhàng hơn là giao tôi cho cơ quan điều tra.” Tôi không biết trả lời sao. Chưa kịp phản ứng, cô tiếp tục: “Tôi sinh ra ở miền đất mênh mông sông nước. Hãy để thân xác này nằm lại nơi đây, xin ông đừng giao cho ai hết. Tôi van xin ông.” Tôi đáp: “Được rồi, tôi sẽ làm theo lời yêu cầu của cô. Nhưng trước nhất hãy để tôi tiêm thuốc cái đã, đừng bướng bỉnh như vậy.”
Tôi kéo tay áo cô lên để tiêm. Trong giây phút ấy, cô không nói lời nào, chỉ đỏ mặt vì xấu hổ. Tôi chăm chú chích mũi kháng sinh mà không thấy máu của cô thắng đỏ vì hổ thẹn, chỉ thấy cô nhăn nhó, xuýt xoa. Tôi bật cười: “Đi lính bị thương không đau, chỉ có kim bé tí tẹo này mà cô nhăn nhó như sao ấy?” Cô cướp lời: “Ông anh nói như khỉ chứ gì?” Tôi cười trừ, đỡ cô gái nằm xuống ngay ngắn trên mái tàu lá chuối. Tôi đứng dậy, cầm cây súng lên đạn, rồi lấy trong ba lô mấy hộp lương khô, bình nước đầy và cuộn băng cứu thương, tất cả đặt bên cạnh cô. Tôi nghiêm nghị nói: “Đơn vị tôi sẽ di chuyển đi nơi khác. Lúc nào đó tôi sẽ tìm các đồng chí của cô, nhưng những thứ này cần thiết cho cô. Tôi hy vọng người của cô sẽ trở lại tìm và cứu sống đồng đội của mình.” Tôi lấy khăn lau mặt cho cô, cẩn thận lấy mái tàu lá dừa che kín lại. Cô gọi với theo: “Ông tên là gì vậy? Có quan trọng lắm không? Sống hay chết tôi còn biết tên người đã đối xử tốt với mình chứ.” Tôi nói: “Vậy thì cô nói với Diêm Vương rằng đó là Lam, Trần Hoài Lâm, và xin với ổng cho tôi tai qua nạn khỏi trong chiến tranh này.” Tôi nghe tiếng cô cười nhỏ cùng tiếng nói thật nhẹ: “Đêm nào em cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi.” Đó là lời hứa của người con gái mà tôi gặp gỡ một lần và chỉ một lần duy nhất trong cuộc đời.
Từ đó, bước chân người lính như tôi đã qua mọi đoạn đường đất nước. Nhiều trận đánh đẫm máu, vài lần bị thương nặng nhưng tính mạng vẫn còn giữ được. Phải chăng Quyên đêm nào cũng cầu nguyện cho tôi được tai qua nạn khỏi như nàng đã hứa? Đất nước thanh bình, tiếng súng im lặng, nhưng những người được gọi là “sĩ quan ngụy” như tôi và bạn bè khác không được thở hít không khí hòa bình ấy. Sau bao năm chiến tranh, tất cả đi vào trại cải tạo – một danh từ mỹ miều nhưng thực chất là đầy đọa, là giết lần mòn. Tôi bất lực nhìn bạn bè ngã xuống vì đói, bệnh hoạn, đầy đọa, khủng bố, đánh đập, thân xác vùi dập ở nơi núi rừng hiu quạnh, trong hốc núi đen tối ngàn trùng. Tôi lặng lẽ sống như cái bóng. Tinh thần vững vàng nhưng thể xác suy sụp nặng nề. Tôi tự an ủi: người lính thì chấp nhận mọi gian nguy, may rủi về mình.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
Ngày hôm ấy, ở Bù Gia Mập, nơi tôi đang lao động, có cơn bão rừng rất lớn. Mọi người được phép nghỉ tại lán. Anh Đặng, khối trưởng, nhận thư từ quản giáo phân phát cho anh em. Tôi vốn là kẻ không thân nhân, không họ hàng, nên lặng đi chỗ khác cho đỡ lo. Bỗng anh Đặng gọi: “Trần Hoài Lâm có thư.” Tôi ngạc nhiên. Ai cũng biết tôi là thằng mồ côi, là “con bà Phước” – danh từ dành cho những kẻ không có ai thăm viếng lẫn thư từ. Tôi nghĩ thầm có lẽ trùng tên với một người nào đó, nên im lặng. Anh Đặng gọi lại, giọng khó chịu: “Trần Hoài Lâm có thư!” Tôi bước tới trong trạng thái hoang mang: “Có thật là của tôi không anh?” Anh Đặng dành phong bì cho tôi: “Làm sao sai được? Thôi nhận đi cho tôi đi làm việc.” Tôi cầm lá thư, lật lại xem kỹ – đúng tên tôi, nhưng người gửi là “Hoài Quyên”. Cái tên chưa bao giờ nghe qua, nhưng một điều chắc chắn – người viết là phái nữ, nét chữ mềm mại, thẳng đứng nhưng rõ ràng. Tôi tứ cố vô thân, làm gì có họ hàng? Tôi đọc: “Chắc anh ngạc nhiên lúc nhận thư của Quyên, người con gái xa lạ. Khi em nói câu này, chắc chắn anh hình dung Quyên là ai: ‘Đi lính bị thương, bị bắn không đau, chỉ mỗi kim bé tí tẹo này mà nhăn nhó rên rĩ’.” Tôi như người lâu bằng hoang mang và xúc động hơn bao giờ hết khi nhớ lại trong trận đánh ấy, một nữ du kích với khuôn mặt bê bết máu, tay rũ rời, gối đầu trên ba lô nhỏ, anh đã đến gần rồi nhẹ nhàng lấy khăn lau cho cô. Cô tiếp: “Đúng như anh nói, đêm hôm ấy đồng đội đã mang em ra khỏi nơi mù mịt khói lửa và chữa trị ở bệnh viện. Sau khi rời bệnh viện, em xin về đơn vị hậu phương để hoạt động, không còn muốn tham gia vào nơi lửa đạn nữa. Từng là chiến sĩ xuất sắc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, vậy mà thoái lui về hậu phương – kỳ lạ quá phải không anh Lam? Chính anh đã làm thay đổi lập trường của em. Những người đối đầu không hẳn đều tàn ác, bằng chứng là anh, anh đối xử thật tốt, thật nhân đạo với kẻ thù.”
Quyên viết: “Hòa bình đến, lòng em không vui vì còn hận thù, vì nợ máu phải trả. Phương châm của bạn bè, cấp lãnh đạo đề ra, em rất buồn vì biết anh đang đi vào ngõ cụt không lối thoát, con đường đi đến cái chết. Sau khi bị thương, em rời khỏi cuộc chơi, không muốn dính líu đến thù hận nữa. Em đã cố gắng tìm kiếm tin tức của anh qua các trại học tập. Trời không phụ lòng người, em tìm ra anh. Anh Lam còn nhớ những gì em đã nói trước khi anh từ giã ra đi không? Quyên đêm nào cũng cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi. Em đã cầu nguyện như vậy mỗi đêm để mong mọi điều lành đến cho anh. Em đang thu xếp công việc để đến thăm anh kỳ tới. Mong được gặp lại anh, hy vọng đừng làm mặt lạnh với Quyên.”
Từ đó, tôi không còn là người cô độc nữa. Quyên thăm tôi đều đặn, lần nào cũng có giọt nước mắt long lanh trên má, làm tôi xúc động muốn khóc theo. Ân tình của em làm sao tôi báo đáp cho nổi? Chỉ còn cách là sống đức độ. Quyên bây giờ là mẹ của bầy con – ba đứa, tất cả đều xinh đẹp. Em chu toàn nhiệm vụ của người vợ hiền, người mẹ nhân ái, sống ở xứ người văn minh tiến bộ. Nhưng Quyên vẫn như tôi dạo nào – áo bà ba và sợi thun buộc chân tóc. Những đêm con cái ngon giấc, em nằm cạnh tôi, thủ thỉ trò chuyện tâm sự. Tôi hỏi: “Quyên, em thương anh từ lúc nào?” Em mắc cỡ: “Kỳ cục, ai mà nhớ? Hỏi bậy bạ.” Tôi làm bộ giận dỗi quay mặt đi. Em nắm lấy tay tôi, năn nỉ: “Thôi đừng giận nữa, em nói nhưng cấm không được cười à nha.” Quyên bắt tôi thề thốt đủ mọi điều rồi mới nói: “Em yêu từ lúc anh kéo tay áo lên để tiêm thuốc, mắc cỡ muốn chết, đã vậy còn ghẹo người ta này nọ.” Tôi xúc động, hôn lên trán vợ, không ngờ cô yêu thương tôi đến vậy. Quyên kể: “Anh biết không, cái khăn tay màu tím ngày đó anh để lại cho em, em giữ mãi, đi đâu cũng xếp lại bỏ vào túi áo, lâu lâu mở ra xem sợ rớt mất. Có một hôm em giặt xong phơi ở hàng rào, gió thổi mất tiêu. Trời đất, em khóc mấy ngày trời, bỏ ăn bỏ ngủ đi tìm nó. Không hiểu sao nó lại về với em, đứa bạn nhặt được mang trả lại. Nó nói cái khăn này bay tới tận khu ủy cách đó gần 5 cây số. Em tin rằng anh luôn luôn bên cạnh để giúp em vượt qua nguy hiểm.” Tôi lặng người. Một chiếc khăn tay nhỏ bé tôi buộc trên vai cô để cầm máu, tưởng chừng không có gì, đã trở thành kỷ vật thiêng liêng của cô suốt cả cuộc đời.
Quyên ngủ say bên vai tôi, tiếng thở nhẹ nhàng. Tôi nghĩ về một điều huyền diệu khó tin nhưng thật sự là vậy – duyên số đưa đẩy để tôi gặp em trong hoàn cảnh đó. Đúng như Quyên nói, nếu gặp người khác, em có thể bị bắn chết hoặc chết vì vết thương, hoặc bị bỏ mặc. Nhưng tôi đã cứu em. Và em đã cứu tôi khỏi cái chết trong trại cải tạo – bằng những lá thư, bằng lời cầu nguyện, bằng tình yêu không biên giới. Giờ đây, tôi không còn nhìn thấy Quyên là kẻ thù cũ. Tôi chỉ thấy người vợ đã yêu tôi từ lúc tôi kéo tay áo cô lên, từ lúc tôi nói đùa về mũi kim bé tí tẹo. Chiến tranh đã lấy đi của tôi quá nhiều – bạn bè, tuổi trẻ, tự do. Nhưng nó cũng cho tôi một thứ không thể mua được: tình yêu của người con gái từng là kẻ thù, người đã giữ chiếc khăn tay màu tím suốt cả cuộc đời và cầu nguyện cho tôi mỗi đêm. Tôi tin rằng duyên số đưa đẩy, và tôi biết ơn cô gái ấy – Quyên – đã yêu một người lính như tôi, người mà cô chỉ gặp một lần duy nhất, nhưng mãi mãi không thể quên.



