Câu chuyện hai anh phi công……

Câu chuyện hai anh phi công……
Tôi đang ngồi trên xe đò từ Vĩnh Long về Sài Gòn, người ngồi kế bên là một người đàn ông trạc 35-40 tuổi, dáng người bắt mắt, cao ráo. Xe chạy được khoảng nửa tiếng, tôi đang ngủ gà ngủ gật thì bỗng nhiên ông ta dùng khuỷu tay thúc vào hông tôi: “Ê, có phải chú mày là giặc lái không?” Tôi giật mình tỉnh dậy. Lúc đó tôi đang đeo chiếc nhẫn Không quân Mỹ (USAF) ở ngón tay phải – nhưng khi công an hoặc lính Cộng sản xét giấy tờ, tôi thường lật mặt chiếc nhẫn vô lòng bàn tay để giấu. Vậy mà ông ta vẫn nhận ra. Tôi hỏi: “Sao chú biết?” Ông ta cười: “Tao nghe nói bọn giặc lái ngụy thường đeo chiếc nhẫn Không quân Mỹ. Vậy chắc chú mày là giặc lái phải không?” Tôi đáp: “Ủa vậy chú là…?” “Tao là người lái của Không quân Nhân dân.” Tôi sững người – một phi công MiG của Bắc Việt ngồi cạnh tôi, một phi công của Không quân Việt Nam Cộng hòa. Hai kẻ thù trên chiến trường, giờ ngồi cạnh nhau trên một chuyến xe đò thời bình.
Chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Ông ta kể: “Tao làm phó thường dân rồi, đâu còn bay bổng chi nữa.” Tôi hỏi: “Sao vậy? Chú còn trẻ khỏe mạnh lắm mà.” Ông đáp: “Tao bị đuổi ra khỏi Đảng, bây giờ làm dân bình thường thôi.” Rồi ông kể về quá khứ của mình – một phi công lái MiG-19, máy bay phản lực hai động cơ, giống A-37 hay F-5 của chúng tôi, nhưng không có khả năng không chiến mạnh bằng MiG-17 hay MiG-21 để đương đầu với F-4 Phantom của Mỹ. Nhưng ông thích lên đấu với F-105 Thunderchief – loại máy bay to, bay nhanh, chuyên mang bom nhưng khả năng không chiến rất yếu.
Ông kể về ngày định mệnh trung tuần tháng 6 năm 1972. Khi nghe loa báo động có F-105 của Mỹ ở hướng Đông Nam Hà Nội, ông mừng lắm – nếu gặp F-105 thì còn thọ, chứ gặp F-4 thì phiền. Nhưng khi bay ra đến nơi, ông thấy toàn F-4 chứ đâu phải F-105. Ông lẩm bẩm chửi thề: “Mẹ kiếp cái đài không lưu báo cáo lét!” Ông đẩy tay ga lên tối đa, bay thẳng lên cao độ 7.000-8.000m để trốn, nhưng phía trước có ít nhất 30 chiếc F-4 bay giàn hàng ngang ở trên tầng mây. Ông bay gần sát bọn chúng, còn thấy phi công Mỹ đội nón an toàn handmade thật ngầu. Ông liền kéo cần để nhảy dù ngay lập tức – nếu chần chờ sẽ bị hỏa tiễn Sidewinder. Ông nhảy dù ra, bay lơ lửng trên trời, còn thấy chiếc MiG-19 của mình rớt xuống đất nổ tan tành với một cục lửa đỏ cam rất to. Những chiếc F-4 của Mỹ bay vèo vèo bên cạnh, thấy ông nhưng không bắn – ông nói đó là phúc lớn, vì phi công Mỹ không bao giờ bắn người đã nhảy dù, theo truyền thống từ Thế chiến thứ hai.
Ông đáp xuống một cánh rừng, vướng tòn ten trên một cây thật cao, nhưng thân hình còn nguyên lành, không bị thương gì. Nhưng dưới gốc cây, có khoảng chục du kích xã, hầu hết mang súng trường, đang nhắm vào ông. Ông hét lên: “Đừng bắn! Không quân Nhân dân! Không quân Nhân dân!” và vỗ vào cánh vai trái nơi có lá cờ đỏ sao vàng để phân biệt ông với phi công Mỹ. Nhưng rồi ông nghe một tiếng súng nổ đoàng – và tỉnh dậy trong nhà thương, chân phải bị băng bột treo lên cao, đang bị truyền nước biển. Cô y tá nói ông đang điều trị tại bệnh viện ở Hà Nội.
Một lát sau, có phái đoàn đến thăm, dẫn đầu là một Thượng tá phi công trưởng của ông, cùng các phi công MiG-17, MiG-21 đến chúc mừng. Họ nói rằng hôm đó ông đã bắn hạ 3 chiếc F-4. Họ cấp cho ông giấy khen Chiến sĩ anh hùng diệt máy bay Mỹ và truy thăng ông lên Đại úy. Nhưng vì bị thương ở chân, ông không thể bay nữa, được điều về phòng huấn luyện giảng dạy cho học viên lái. Ông buồn vì thích đi bay lắm, nhưng cũng nghĩ: “Cảm ơn mấy thằng du kích xã vì nó bắn tao bị thương chân nên bị loại ra khỏi đi bay sớm, nếu còn bay thì có ngày ngất thở với bọn F4.”
Tôi hỏi: “Rồi sao hả chú?” Ông đáp: “Tao làm việc tại phòng huấn luyện được vài năm. Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Bắc tấn công và chiếm miền Nam. Tụi tao thì nói với nhau: miền Nam thua vì bị Mỹ bỏ rơi nửa chừng; tụi mình có đánh đâu mà thắng, còn miền Nam có đánh đâu mà thua? Sau đó tao nhận được thư từ Nam gửi ra, nói rằng tao có một thằng em trai đi vô Nam hồi năm 1955, lớn lên tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt, giữ chức Đại úy Nhảy dù. Bây giờ nó đi cải tạo ở Suối Máu. Dẫu sao cũng là anh em ruột thịt, tao động lòng máu mủ, đứng ra làm đơn xin bảo lãnh cho em ra. Kết quả là thằng em không ra tù mà tao lại bị chúng nó điều tra lại lý lịch, bị kết tội khai gian và che giấu có thằng em ngụy ác ôn. Tao bị trục xuất ra khỏi Đảng, đuổi ra làm phó thường dân. Tao xin về miền Nam ở nhà gia đình thằng em tại Vĩnh Long, vì thấy miền Nam thoải mái hơn, và có cán bộ trong nhà từ công an phường xã đỡ ăn hiếp gia đình em tao.”
Rồi ông cười, kéo hai tay áo lên, lộ ít nhất mười mấy cái đồng hồ Seiko trên hai cánh tay. Chiếc áo khoác bên ngoài có nhiều túi kéo chứa toàn hộp quẹt Zippo. Ông nói: “Tao thấy trên tàu hỏa người ta đi buôn sống rất khoái, đâu cần đi làm cho nhà nước suốt đời nghèo. Tao nghĩ ra nghề đi buôn – ở Nam mua xe đạp mini, xe đạp Pháp Peugeot, xe gắn máy Honda, đồng hồ Seiko, màn Mỹ, mền dù lính, hộp quẹt Zippo, bột ngọt đem ra Bắc bán. Còn từ Bắc vô Nam thì mua đồ Liên Xô: thuốc Tantra, lòng nhôm vàng, thuốc chống sốt rét. Một năm đi 2-3 chuyến là đủ sống trong năm. Đời sống rất thoải mái, sung sướng, cơm thì toàn bò thịt.”
Ông nhìn chiếc nhẫn Không quân Mỹ trên tay tôi: “Chú mày đang đeo cố định. Bán không?” Tôi trả lời: “Chiếc nhẫn này của tôi quý lắm, là kỷ vật học bay bên Mỹ, tôi không bán đâu.” Ông hỏi tiếp: “Nghe nói bọn mày đi Mỹ học bay được cấp một cái áo khoác màu xanh lá cây, bên trong vải satin màu cam đẹp lắm, mày còn giữ không? Bán cho tao đi.” Tôi nói: “Hồi miền Bắc vào chiếm miền Nam, tôi vứt đi hết rồi, đâu dám giữ.” Tôi hỏi lại: “Chú đi buôn lên xuống như vậy có bị công an các trạm làm khó không?” Ông cười: “Có gì đâu! Tụi nó xét là tao rút túi ra tờ giấy chứng nhận Liệt sĩ anh hùng diệt máy bay Mỹ là tụi nó cho qua. Với lại tao là cựu Đại úy, có giấy tờ chứng minh, tụi nó thấy là run rồi. Buồn buồn tao đeo cái huy chương Bác Hồ Phi công anh hùng vào áo là tụi nó phát khiếp.”
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
Xe đò chạy vào bến xe Miền Tây, tôi xuống, giúp chú ấy chất mấy xe đạp mini, máy may, hàng lên xích lô máy. Trước khi chia tay, ông nói: “Lần cuối, bây giờ tao lên thành phố đón tàu hỏa về Bắc. Thôi tạm biệt chú em, nhớ giữ gìn sức khỏe nhé!” Tôi giơ tay chào theo kiểu nhà binh, ông cũng chào lại y chang. Tôi không bao giờ quên cuộc gặp kỳ lạ này – hai phi công của hai bên chiến tuyến, giờ ngồi chung một xe đò, kể cho nhau nghe những câu chuyện đời đầy trớ trêu.
Rồi tôi gặp lại ông một lần nữa, trên đảo tị nạn ở Indonesia. Tôi đi vượt biên năm 1979, sau một tuần lênh đênh trên biển thì đến đảo Galang. Một hôm, tôi tình cờ thấy một người đàn ông quen đang sửa lều. Tôi hỏi: “Chú còn nhớ tôi không? Phi công MiG-19 trên xe đò Sài Gòn – Vĩnh Long ấy?” Ông đưa tay lên miệng ra hiệu im lặng, rồi cười: “Chú em đấy à! Anh chúc em ở đảo này hồi nào?” Tôi nói: “Em đi đường Bến Tre – Trà Vinh tới đây, vợ chồng em ở trong lều này.” Ông kể vợ ông là vợ của một Thiếu tá phi công chế độ Sài Gòn, người đã chết trong trại cải tạo năm 1977. Bà phải làm lụng khổ sở buôn bán chợ trời để nuôi hai đứa con nhỏ. Ông thương bà và hai đứa trẻ, đã lấy bà và nhận con.
Ông nói với tôi một điều quan trọng: “Khi phỏng vấn với phái đoàn Mỹ, phải khai thật, đừng dấu diếm, đừng khai gian. Mỹ họ rất ghét nói láo. Khai đúng sự thật thì không bị trở ngại xin tị nạn chính trị.” Tôi ghi nhớ lời ông. Khi đến lượt phỏng vấn, ông Mỹ hỏi tôi bằng tiếng Anh về thủ tục khởi động động cơ, tên các thiết bị, và tôi trả lời rành rẽ không vấp váp. Buổi phỏng vấn kết thúc, tôi được thông báo chờ kết quả. Một tháng sau, cả hai gia đình được đi khám sức khỏe và lên thuyền đi Singapore để định cư bên Mỹ. Trên thuyền, tôi gặp lại ông, chúc mừng ông và gia đình. Ông sang New York, tôi sang California. Chúng tôi tạm biệt nhau, không hẹn ngày gặp lại.
20 năm sau, vào trung tuần tháng 5 năm 2000, vợ chồng tôi rủ nhau lên Santa Ana đi chợ Việt Nam ở khu Westminster. Chúng tôi vào một nhà hàng phở. Vừa ngồi xuống, một người đàn bà cầm menu đưa chúng tôi. Tôi nhìn lên – hình như quen quen. Tôi hỏi: “Hình như bà chủ lúc trước ở Sài Gòn khu nhà thờ Ba Chuông thì phải?” Bà ta mừng rỡ: “Trời ơi! Hình như đây là chú mình hồi đó có làm ăn trên đường Lê Thánh Tôn?” Tôi mừng quá: “Đúng rồi, chính mình đây! Ủa anh đâu rồi chị?” Bà sầm nét mặt: “Anh mất hơn 2 năm rồi. Anh bị đột quỵ khi đang ở trong bếp. Anh làm technician ở một hãng điện tử 15 năm, về hưu, rồi mở tiệm phở, hai vợ chồng già sống qua ngày. Còn bé gái thì học UCI xong ra làm bác sĩ ở bệnh viện Fountain Valley. Thằng con trai học UC Davis ra làm kỹ sư cho Boeing ở Long Beach. Tụi nó có gia đình hết rồi.”
Tôi nghe mà lòng nặng trĩu. Người đàn bà đưa chúng tôi vào văn phòng nhỏ của chị, trên tường thờ hai linh vị: một của Thiếu tá phi công thuộc Phi đoàn 518 – chồng cũ của chị, và một của Đại úy phi công MiG-19 Hà Nội – người đàn ông mà tôi đã gặp trên xe đò, người đã khai thật với phái đoàn Mỹ, người đã cùng tôi vượt biên và định cư ở Mỹ. Tôi đốt nén nhang, khấn vái và kính chúc hai anh siêu thoát lên cõi Niết bàn. Hai người từng là kẻ thù trên chiến trường, giờ nằm cạnh nhau trên bàn thờ. Anh em đánh giết lẫn nhau cũng vì ngoại bang. Anh em cùng một nhà, cùng một nước, nói cùng một ngôn ngữ. Có chiến tranh cũng vì ngoại bang gây ra. Tôi chỉ cầu mong cho đất nước mình một ngày không còn cộng sản, có thể chế tự do dân chủ và không bao giờ có chiến tranh nữa. Trên bàn thờ, nụ cười của hai phi công như chứng nhân cho một sự thật mà chiến tranh không thể xóa nhòa: rằng ở cuối cùng, tất cả chúng tôi – dù là phi công của bên nào – đều là những con người khao khát tự do và yêu thương đất nước mình.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!