Em Bé Việt Được Người Lính VNCH Cứu Sống Trở Thành Trung Tá Mỹ, 40 Năm Sau Hội Ngộ Trong Nước Mắt…..

Em Bé Việt Được Người Lính VNCH Cứu Sống Trở Thành Trung Tá Mỹ, 40 Năm Sau Hội Ngộ Trong Nước Mắt…..
Tôi vẫn nhớ như in cái chiều hôm ấy, chiều ngày 1 tháng 5 năm 1972. Tôi là thiếu úy thủy quân lục chiến Trần Khắc Báo, 24 tuổi, thành viên trong đội phá dở được giao nhiệm vụ cho nổ cầu Mỹ Chánh trên xa lộ chính giữa Quảng Trị và Huế. Cả ngày hôm đó, những người tị nạn cuối cùng của Quảng Trị hối hả chạy qua cầu để thoát khỏi chiến tranh. Bỗng nhiên, tôi nhìn thấy thấp thoáng bên kia cầu Mỹ Chánh còn một người lính đang ôm chiếc nón lá thất thểu đi qua với dáng điệu hết sức mỏi mệt.
Tôi định chạy qua cầu giúp người này nhưng vị thiếu tá đang chịu trách nhiệm trấn giữ tại đó la lớn: “Cây cầu đã gài mìn, có thể nổ và sẵn sàng phá hủy khi thấy chiến xa của địch xuất hiện. Đừng chạy qua, chú sẽ bị bỏ lại bên đó, không về lại được đâu!” Tôi cố nài nỉ: “Đại úy, chờ em một chút, cho em cứu người cuối cùng này.” Và tôi chạy đến đưa người lính qua cầu. Khi lại gần, tôi thấy người này đi không nổi, thất tha thất thểu mà tay còn cố ôm vòng chiếc nón lá. Tôi nói đùa: “Đi không nổi mới còn mang theo vàng bạc châu báu gì nữa đây cha nội.” Người lính quân cụ mệt mỏi trả lời: “Trên đường chạy về đây, em thấy cảnh tượng hết sức thương tâm. Mẹ nó đã chết từ bao giờ không biết và nó đang trườn mình trên bụng mẹ nó tìm vú để bú. Em cầm lòng không được nên ẵm nó đến đây trao cho thiếu úy. Xin thiếu úy ráng cứu nó vì em kiệt sức rồi.” Nói xong anh trao chiếc nón lá cho tôi. Tôi đưa tay đón nhận đứa bé, nói với người lính: “Được rồi, để tôi lo cho nó. Còn anh cũng lo cho sức khỏe của anh. Lên xe đi để chúng tôi đưa anh về vùng an toàn.”
Tôi ôm em bé đeo lên chiếc xe chạy về Phong Điền cách đó khoảng 20 cây số. Trên đường đi, tôi cảm thấy rất bối rối vì em bé khóc không thành tiếng, vì đói khát. Tôi lúc đó mới 24 tuổi, độc thân, chưa có kinh nghiệm gì về trẻ con. Tôi hỏi người tài xế: “Bây giờ phải làm sao?” Anh tài xế tên Tài trả lời: “Ông thầy cho nó bú đi.” Tôi ngơ ngác: “Thầy không có sữa.” Anh Tài chỉ: “Lấy bi đông nước chấm đầu ngón tay vào nước để vào miệng nó cho nó bú.” Tôi làm theo, và em bé nín khóc, nằm im cho đến khi tôi đưa em vào phòng xã hội của Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến. Tại đây, tôi gặp Thiếu tá Nhiêu, trưởng phòng bốn thủy quân lục chiến. Tôi trao em bé cho thiếu tá và nói: “Thiếu tá, tôi có lượm một em bé ngoài mặt trận, xin giao cho thiếu tá.” Thiếu tá nhìn tôi cười: “Mày đi đánh nhau mà còn con rơi con rớt tùm lum.” Tôi thanh minh: “Không, tôi lượm nó ngoài mặt trận, nó đang nằm trên xác mẹ nó.” Thiếu tá bảo: “Thôi, đem em bé giao cho phòng xã hội để họ làm thủ tục lo cho nó.”
Tôi đưa em bé cho một nữ quân nhân phụ trách xã hội. Cô ấy nói với tôi: “Thiếu úy giao cho thì thiếu úy phải có trách nhiệm. Vì em bé này ở ngoài mặt trận, thiếu úy phải cho nó cái tên và tên họ thiếu úy nữa để sau này nó biết cội nguồn của nó mà tìm.” Lúc đó tôi còn độc thân, nhưng trong thâm tâm tôi vốn nghĩ rằng sau này khi cưới vợ, nếu có con gái tôi sẽ đặt tên là Bích, nếu con trai tôi sẽ đặt tên là Bảo. Tôi lấy họ của mình đặt cho em bé cái tên là Trần Thị Ngọc Bích. Sau đó tôi trở về đơn vị và cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Đến tháng 5 năm 1975, đơn vị tôi bị thất thủ cùng Lữ đoàn 2 Thủy quân Lục chiến ở Huế và tôi bị bắt làm tù binh. Mãi đến năm 1981 tôi mới được thả về. Tháng 9 năm 1994, tôi được sang định cư tại thành phố Albuquerque, tiểu bang New Mexico, Hoa Kỳ.
Còn em bé mồ côi Trần Thị Ngọc Bích được chuyển giao cho cô nhi viện Thánh Tâm Đà Nẵng để được các sơ chăm sóc. Số hồ sơ của em là 899. Và rồi một người lính Hoa Kỳ thuộc binh chủng không quân tên là James Mitchell đến thăm cô nhi viện. Thấy các em bé xinh xắn, mồ côi, ông quyết định nhận một em làm con nuôi đem về nước. Em Trần Thị Ngọc Bích được ông James Mitchell đón đi và trở thành thành viên của gia đình Mitchell. Năm 1972, ông James Mitchell về nước mang theo Ngọc Bích lúc ấy mới 6 tháng tuổi. Cô bé được cha mẹ nuôi đặt tên mới là Kimberly Mitchell, thường được gọi là Kim.
Kim lớn lên ở trang trại gia đình tại Spring Springs, tiểu bang Wisconsin. Cô được cha mẹ nuôi thương yêu như con ruột, được đi học, tham gia thể thao và vào hội thanh niên. Cha mẹ cô khuyến khích cô học cách nuôi gia súc và động vật, cô nuôi bò và từng giành giải vô địch vào năm 1986. Nhưng cái tên Trần Thị Ngọc Bích đã bị quên lãng từ đó. Kim cho biết mỗi khi nghe ai nói về Việt Nam, cô thường tự hỏi: “Việt Nam là đâu nhỉ?” Đến một hôm, Kim nhận thấy mình không phải người Mỹ như cha mẹ, không phải con lai cũng không phải người Trung Quốc. Cô không biết mình là người nước nào. Rồi một hôm, Kim hỏi cha nuôi: “Cha, con muốn biết con là người nước nào, nguồn gốc con ở đâu, tại sao con lại là con ba mẹ?” Cha nuôi James giải thích: “Con là người Việt Nam, ba mẹ sinh con từ trong viện mồ côi ở Đà Nẵng, Việt Nam. Nếu con muốn tìm nguồn cội, con có thể về Đà Nẵng.”
Nhưng lúc đó Kim còn quá nhỏ, chưa thể làm gì. Cô khắc ghi lời cha nuôi và chờ đợi cơ hội. Ngay từ khi còn nhỏ, Kim đã được cha đưa đến thăm các căn cứ không quân. Năm 1979, cha cô nghỉ hưu và gia đình định cư tại quê nhà của mẹ ở Wisconsin. Cô là một cô gái thị trấn nhỏ người Mỹ, hòa nhập với những đứa trẻ khác. Kim có tính cách cẩn thận, ngay từ khi còn học mẫu giáo, cô đã muốn mọi thứ phải hoàn hảo. Cha nuôi James muốn sau này cho cô gia nhập không quân, nhưng khi Kim biết về Học viện Hải quân, cô đã yêu biển cả và mơ ước được gia nhập hải quân.
Năm 1990, Kim đăng ký vào trường dự bị Học viện Hải quân và tốt nghiệp năm 1991. Trong thời gian này, cha nuôi cô không may gặp một tai nạn tại trang trại và qua đời. Người cha tận tụy và đầy tình yêu thương đã rời thế gian, để lại trong lòng cô một nỗi buồn sâu sắc. Cô quyết định ở nhà một năm để phụ giúp gia đình, sau đó quay trở lại con đường học vấn. Năm 1996, Kim tốt nghiệp cử nhân kỹ thuật đại dương của Học viện Hải quân Hoa Kỳ.
Sau khi tốt nghiệp, Kim được phân công làm sĩ quan tác chiến mặt nước trên các tàu nổi. Cô tham gia chương trình thực tập tại Washington DC và lấy bằng cao học quản lý tổ chức tại Đại học George Washington. Từng là một đứa trẻ mồ côi, Kim chỉ cao 1,57m, lại là công dân nhập tịch từ Việt Nam, nhưng cô đã rất vinh dự khi đại diện cho Hoa Kỳ trong các cuộc thảo luận quốc tế. Năm 2001, cô tham gia các cuộc đàm phán đa phương về các hiệp ước tên lửa hạt nhân. Người Nga nhìn Kim như thể cô là ai? Cô tự tin nói: “Tôi là Trung úy Mitchell, tôi đại diện cho Bộ Tham mưu Liên quân.” Cô được giao các nhiệm vụ ngày càng quan trọng, trở thành sĩ quan tác chiến trên tàu USS Cromlin, chống lại các hoạt động buôn bán ma túy. Năm 2005, cô được triển khai đến Bahrain để huấn luyện hải quân Iraq. Năm 2009, cô trở thành trợ lý quân sự cho Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng.
Kim đã phục vụ hải quân Hoa Kỳ trong 17 năm. Cô được đích thân Bộ trưởng Hải quân và Tòa Bạch Ốc lựa chọn để làm trợ lý xã hội quân sự tại Tòa Bạch Ốc, nơi cô tham gia hơn 600 sự kiện do tổng thống và đệ nhất phu nhân tổ chức. Trong hai năm cuối cùng khi còn tại ngũ, cô đã làm việc cho Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân với tư cách là phó giám đốc Văn phòng Hỗ trợ Gia đình và Chiến binh. Sau khi rời hải quân vào năm 2012 với cấp bậc trung tá, Kim là chủ tịch đồng sáng lập Trung tâm Dision về Dịch vụ Quân đội và Cựu chiến binh, nơi cô đã làm việc với hơn 650 cộng đồng trên toàn nước Mỹ.
Vào tháng 7 năm 2017, Kim trở thành cựu chiến binh không phải người Việt Nam đầu tiên và là người phụ nữ đầu tiên được chọn làm chủ tịch và tổng giám đốc điều hành của Làng Cựu chiến binh San Diego. Vào tháng 5 năm 2020, cô chuyển sang làm phó chủ tịch cấp cao của Đại học Quốc gia. Kim hiện đang phục vụ trong hội đồng quản trị của Quỹ Tưởng niệm Cựu chiến binh Việt Nam. Cô còn là học giả Chương trình Lãnh đạo Cựu chiến binh của Trung tâm Tổng thống George W. Bush năm 2019. Nhờ vậy mà câu chuyện cuộc đời cô được Tổng thống Bush chú ý và ông đã đưa câu chuyện ấy vào cuốn sách của mình “Out of Many, One: Portraits of America’s Immigrants” xuất bản năm 2021.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
Trung tá Kimberly Mitchell vẫn luôn mong muốn một ngày nào đó được trở lại nơi mình đã sinh ra để kết nối với quá khứ. Phải đến gần 40 năm sau cô mới thực hiện được ước mơ đó. Trước khi thực hiện chuyến đi tìm về nguồn cội vào năm 2011, những gì Kim biết về Việt Nam chỉ là những hình ảnh về một đất nước có nhiều cảnh đẹp. Kim cho biết: “Khi tôi tới đó, tôi mới thực sự nhận ra đất nước đó đẹp thế nào. Người dân rất thân thiện, cởi mở và nhiệt tình.” Cô đã tới một số thành phố cả ở miền Bắc lẫn miền Trung và miền Nam. Nhưng nơi cô thực sự mong đến nhất là trại trẻ mồ côi Thánh Tâm, nơi từng cưu mang cô cách đây gần 40 năm. Tại đó, Kim đã vô cùng xúc động khi được gặp lại một số nữ tu đã từng chăm sóc cô, trong số họ có Sơ Mary. Sơ Mary giở hồ sơ cũ, tìm tên James Mitchell rồi cho biết: “Lúc người ta mang con tới đây, con mới có 4 tháng và họ đặt tên con là Trần Thị Ngọc Bích. Họ nói mẹ con đã chết trên đại lộ kinh hoàng. Con được một người lính Việt Nam Cộng hòa cứu chuyển về đây.”
Kimberly trở về không biết gì hơn ngoài cái tên thật của mình là Trần Thị Ngọc Bích. Cô thích thú khi biết rằng nó có nghĩa là “một viên ngọc quý”. Ngoài ra, cô không tìm thêm được manh mối nào. Thỉnh thoảng cô viết câu chuyện của đời mình và chia sẻ trên internet. Câu chuyện của Kimberly được đưa lên truyền thông. Một ngày kia, những dòng tin ấy xuất hiện trước mắt tôi – Trần Khắc Báo, người thiếu úy năm nào đã bế cô bé trên tay và đặt cho cô cái tên mà tôi dự định sẽ dành cho con gái mình. Cuộc liên lạc nói chuyện với Kim qua điện thoại kéo dài không dứt. Cuốn phim của người lính trẻ 24 tuổi, đứa trẻ bò trên xác mẹ và chiếc nón lá được chiếu đi chiếu lại trong nước mắt nhạt nhòa của tôi.
Một ngày tháng 5 năm 2012 tại Albuquerque, giới truyền thông Mỹ Việt được mời tới chứng kiến cuộc hội ngộ cảm động sau 40 năm. Trung tá Kimberly Mitchell bước vào trụ sở Hội Cộng đồng Người Việt Quốc gia New Mexico trước những ống kính truyền hình. Cô đến đây tìm ai? “Tôi muốn tìm ông Trần Khắc Báo.” Vị chủ tịch quay sang một người lính già trong quân phục thủy quân lục chiến và giới thiệu: “Đây là ông Trần Khắc Báo.” Lập tức Kim tiến lại ôm lấy tôi và cả hai cùng khóc nức nở. Qua phút xúc động, Kim hỏi người lính già: “Ông là người đã cứu mạng tôi, tôi mới có ngày hôm nay. Tôi xin cảm ơn ông. Và bây giờ ông muốn gì ở tôi không?” Tôi nói: “Thực sự bây giờ tôi chỉ muốn cô nói với tôi một lời bằng tiếng Việt. Cô hãy kêu tôi là ‘tía’. Vì tất cả các con tôi đều gọi tôi bằng tía. Tôi xem cô cũng như con tôi.” Kim gọi: “Tía!” Tôi mãn nguyện. Tôi nhắn nhủ Kim rằng cô không phải là đứa trẻ bị bỏ rơi. Cô đã được những người lính Việt Nam Cộng hòa có tinh thần trách nhiệm cứu sống trên xác người mẹ đã chết và chính tôi đã đặt tên cho cô là Trần Thị Ngọc Bích. Tôi cũng mong rằng sau này cô có thể trở lại Quảng Trị, may ra có thể tìm ra tung tích cha cô hoặc người thân của mình. Tôi cũng cho biết tôi mất liên lạc với người lính quân cụ từ lúc hai người giao nhận đứa bé đến nay.
Kim vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình tôi. Kim nói: “Ông ấy không bao giờ quên tôi và luôn coi mình theo một nghĩa nào đó là cha nuôi của tôi. Ông ấy gọi tôi là con gái và con cái riêng của ông ấy gọi tôi là chị. Người Việt Nam rất coi trọng gia đình.” Cô xúc động nói thêm: “Tôi vô cùng kính trọng ông Báo. Lòng trắc ẩn và sự vị tha của ông ấy vượt quá sự hiểu biết của tôi. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng ông ấy đại diện cho rất nhiều người khác, những cựu chiến binh đã cống hiến hết mình theo những cách phi thường. Tôi nợ họ mọi thứ. Tôi đã sống giấc mơ Mỹ vì những hy sinh mà họ đã thực hiện ở Việt Nam. Vì điều đó, tôi sẽ luôn có lòng biết ơn bất diệt.”
Câu chuyện của Trần Thị Ngọc Bích, viên ngọc quý trên đại lộ kinh hoàng, đã khép lại với một kết thúc đầy tình người. Cô bé mồ côi ngày nào đã trở thành một quân nhân xuất sắc trong quân lực Hoa Kỳ, và tôi, người lính già năm xưa, đã được gọi một tiếng “tía” từ chính người con gái mà tôi đã cứu sống 40 năm trước. Đó là phần thưởng lớn nhất mà cuộc đời tôi có thể nhận được.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!