50 năm sau, cô giáo già bên dòng sông cũ vẫn giữ bài thơ tình của người lính Thủy quân Lục chiến…….
—
Tôi vẫn nhớ như in cái đêm định mệnh ấy, đêm giao tranh giữa du kích quân và lính nghĩa quân tại Cái Gáo. Một trái lựu đạn bất ngờ rơi trúng vào nhà dân. Ánh chớp như sấm sét ghê rằng giáng xuống đầu chúng tôi, một tiếng nổ kinh hoàng. Rồi mái ngói vỡ toang, mọi thứ trong nhà đổ sập xuống. Trong phút giây hoảng loạn, tiếng súng đạn kinh hồn vẫn còn văng vẳng, mùi khét và máu tanh bốc lên nồng nặc. Tiếng thét thất thanh của mẹ tôi vang lên: “Trời ơi, cứu con gái tôi! Trời ơi, chết con gái tôi rồi!” Đó chính là đêm định mệnh đã chụp lấy cuộc đời chị tôi, một màu đen tăm tối. Chị không chết, nhưng cánh tay trái của chị đã mất đi vĩnh viễn, và một mảnh lựu đạn găm vào phổi, nằm nguyên ở đó như một kỷ vật nhức nhối mà đến chết chị vẫn mang theo.
Năm ấy, chị tôi hai mươi tuổi, xinh đẹp, hiền lành, với mối tình đầu đẹp như giấc mơ. Người yêu của chị là lính, như phần lớn thanh niên thời ấy. Anh là lính hải quân. Khi nhận tin dữ, anh xin 48 giờ phép đặc biệt để tức tốc trở về bên chị. Anh túc trực, ân cần chăm sóc chị trong bệnh viện với tất cả tình yêu chân thành tha thiết. Rồi khi hết phép, anh ngậm ngùi ra đi. Mọi người ứa nước mắt mỗi khi nhìn chị, nhưng chị lặng lẽ không khóc. Chị nhắm mắt lại, quay mặt vào tường để không nhìn thấy ai và cũng không muốn ai nhìn thấy mình.
Vết thương lành rồi, chị trở về nhà và trở thành một người khác. Lúc chưa bị thương, chị là một cô gái vui tươi, hòa mình, thân thiện với mọi người. Giờ thì chị lặng lẽ như chiếc bóng, tham gia vào sinh hoạt chung của gia đình nhưng tránh mọi giao tiếp bên ngoài. Từ nơi xa, người yêu chị liên tục gửi thư về. Lá thư đầu tiên, anh đề cập tới ngày cưới. Chị đọc xong, ôm mặt khóc vui. Lá thư thứ hai, chị không mở ra và cũng không khóc. Lá thứ ba, thứ tư, thứ năm, chị vẫn không mở. Những lá thư xếp chồng lên nhau trên mặt bàn viết. Chị không khóc, cũng không hồi âm. Rồi những lá thư thưa dần theo những tháng ngày lặng lẽ ẩn đạm của chị. Mọi người tái ngày, nhưng không ai dám nói ra điều gì, sợ sơ suất sẽ khiến chị đau buồn thêm.
Trung tâm Chỉnh hình Sài Gòn làm cho chị một cánh tay giả. Chị có thể tự mình đi xe đạp, tay áo che giấu cánh tay giả nên ít người nhận ra. Chị đặt xe thong thả, hai bàn tay đặt lên ghi đông như một cô gái bình thường. Từ sau ngày bị nạn, trang phục của chị thay đổi. Chị bỏ hẳn những bộ cánh tươi thắm của một thời thiếu nữ để mặc toàn những chiếc áo đen như cụ phụ. Màu đen điểm trang cho gương mặt chị vốn đã đẹp càng thêm đẹp não nùng với một nét buồn man mác, một nét duyên khuất đến lạ. Chị thường đặt xe lui tới những nơi mà người ta cũng mặc áo đen như chị – đó là tu viện của các sơ Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn.
Tháng ngày trôi dần. Vết thương trên thân thể đã quen và vết thương lòng chừng như đã bớt đau. Năm 1969, chị tôi bắt đầu vào nghề giáo. Giáo dục ưu ái cấp sự vụ lệnh cho chị về dạy trong một trường tiểu học ở quê nhà. Thế là tự tay ngôi trường dần dần tạo nên cho chị một niềm vui sống. Nhưng màu đen thì vẫn còn đó, vẫn là tà áo đen ngày hai buổi đến trường. Chị yêu nghề, yêu trẻ, đặc biệt yêu các em học trò nghèo khó. Chị dùng một phần lương cô giáo để bù đắp cho những mảnh đời trẻ thơ bất hạnh, có những bộ quần áo mới, bút mực, sách vở và cả tiền bánh sáng mỗi ngày. Học trò rất yêu cô, và đồng nghiệp ai cũng mến thương cô giáo áo đen.
Một thầy giáo trong trường có lần trong buổi họp đã cao hứng đọc mấy câu thơ: “Cô giáo trường tôi với cánh tay còn lại / Vẫn lật hàng ngàn trang sách vở / Vẫn phê hàng vạn điểm học trò / Như đóa hoa trong thời chinh chiến / Nở buổi ban mai bom đạn tơi bời / Cô giáo trường tôi với cánh tay còn lại / Vẫn góp bàn tay tô điểm cuộc đời.” Một tràng pháo tay nồng nhiệt nổi lên như niềm vui trong trẻo vang vọng cả sân trường. Lần đầu tiên mọi người nhìn thấy cô giáo áo đen nở một nụ cười hạnh phúc.
Những năm ấy, tình hình chiến sự càng lúc càng sôi động. Hỏa châu thắp sáng những đêm tối đầy bất trắc. Đạn pháo kích dội vào thành thị, tiếng máy bay gầm rú thả bom đáp trả. Có những cuộc hành quân thủy bộ và những cánh quân vượt nhanh thôn xóm, nghỉ ngơi vài ba ngày rồi tiếp tục lên đường đi chinh chiến. Mùa đông năm 1970, một đoàn lính Thủy quân Lục chiến dừng chân ghé lại quê tôi. Liều bạt dựng tạm cho những cánh đồng vừa mới gặt còn thơm mùi rạ mới. Những chiếc võng dù vắt mát rạp bên những hàng dừa xanh, và ngay cả bên hàng hiên yên ả của khu dân cư. Trên con phố chợ, những anh lính trẻ vào chơi, cười nói bông đùa với các cô thôn nữ. Nhóm khác ngồi trong quán nhỏ nhậu nhẹt tưng bừng với rượu ba xì và mấy con khô nướng thơm lừng. Nhưng có một anh lính ngồi trong quán cà phê trong làn khói thuốc, nghe nhạc hoặc viết thư cho gia đình hay cho người yêu bé nhỏ.
Ngay chiều hôm ấy, khi đang thơ thẩn dạo chơi trong làng nhằm giờ tan học, thiếu úy Thái Bình bắt gặp một tà áo đen giữa một đàn học sinh từ cổng trường túa ra như đàn bướm trắng chấp chới bay. Anh bàng hoàng nhìn thấy khuôn mặt cô giáo trẻ xinh đẹp như một bông hoa tím khuất nỗi niềm riêng. Cô đi giữa đàn em thơ, có em nắm lấy tay cô, có em ngước mặt lên kể lễ điều gì đó khiến cô mỉm cười xoa đầu. Một sức hút lạ thường bắt anh phải theo gót chân cô về nhà. Cô giáo cách xa trường độ 400 mét, dọc theo lối nhỏ một bên là sông, một bên là khu vườn dừa. Chiều trong êm đềm, gió sông mát cả tâm hồn. Tà áo đen tung bay cùng mái tóc chấm ngang vai đang đùa vui theo gió cuốn, vô tình không biết có một người lính đi theo mình. Cô giáo vẫn hồn nhiên bước đi về tới tận nhà. Khi xoay người lại để đóng cửa rào, cô chợt bắt gặp bên kia đường một người lính Thủy quân Lục chiến đang đứng đó như đang lạc bước.
Nhưng việc ấy không để lại một điều gì trong tâm trí cô, bởi lẽ thỉnh thoảng vẫn có một đoàn quân ghé ngang qua làng và các anh lính vẫn thường đi loanh quanh đây đó. Ngày hôm sau là chủ nhật, cô giáo đi nhà thờ như lễ Misa. Khi tan lễ, cô trở về nhà vẫn trên con đường ven sông vắng vẻ yên bình. Buổi sáng ánh hồng trên hàng dừa phía đông, cô vừa đi vừa bâng quơ nhìn chiếc bóng của mình đổ dài lên phía trước. Bất chợt cô nhận ra có một cái bóng thứ hai của ai đó. Tự dưng cô quay lại nhìn, thấy một quân nhân dáng hình cao đang bước theo sau cô. Cô nhớ lại hình như đó là anh lính chiều hôm qua mà cô đã nhìn thấy trước cửa nhà. Cô không nhìn rõ gương mặt anh, chỉ thoáng thấy đôi mắt sáng nổi bật trên khuôn mặt ngoài dặm phong sương và một mái tóc bồng bềnh mà những cuộc hành quân dài ngày nên chưa kịp hớt ngắn. Tâm trí cô giáo trẻ chợt dấy lên một cảm giác lúng túng pha lẫn trực linh cảm mơ hồ. Cô vội vã bước đi không dám nhìn ra sau nữa. Trên mặt đường, khi thấy chiếc bóng người quân nhân tiến lên, có lẽ anh ta đi chậm lại hoặc đã quay đi hướng khác.
Ngày hôm sau, thứ hai, cô giáo đến trường mà không biết rằng anh lính ấy ngồi trong quán nước trước cổng trường chờ cho đến giờ tan học để theo gót chân cô đi về trên lối nhỏ. Thiếu úy Thái Bình, một anh chàng Thủy quân Lục chiến kỳ cựu đã từng đặt chân lên bốn vùng chiến thuật, một chàng trai gan lì biết bao lần xông pha trong lửa đạn, coi nhẹ giữa tử sinh. Nhưng giờ đây bên cạnh một dòng sông hiền hòa trôi chảy, anh bỗng đắm đuối vì tình một cô giáo miền quê. Anh ngồi đó uống từng ngụm cà phê đắng, chống tay trong làn khói thuốc, rồi nguồn cảm hứng dâng lên cho trào lên giấy trắng. Anh viết mênh mang như chìm sâu vào một cõi mộng du, chỉ đến khi tiếng trống trường vang lên báo giờ tan học, anh vội vã cất cuốn sổ tay vào túi áo, vuốt lại mái tóc bồng bềnh và đứng lên xao xuyến đợi chờ.
Ngày một, ngày hai trôi qua. Dân chúng trong khu phố nhỏ kháo nhau chuyện ông sĩ quan Thủy quân Lục chiến trồng cây si cô giáo. Và chính tôi cũng đã hiểu ra điều đó khi nhận ra buổi tan trường nào cũng có người ấy lặng lẽ nối gót theo sau, không sỗ sàng, không băng qua lấy một lời. Khi cô giáo đang ở trong lớp học, học sinh cắm cúi làm bài thi, người lính đột ngột xuất hiện. Anh gõ nhẹ vào cửa lớp rồi đứng nghiêm chào cô giáo theo kiểu nhà binh. Cô giáo ngồi sững sờ bất động. Người lính tự động bước vào, tiến thẳng bên cô, đặt lên bảng viết một tờ giấy học trò sạch sẽ, bên trong là một bài thơ với tựa đề “Nói với tà áo màu đen”, được viết bằng nét chữ rõ đẹp, mạnh mẽ và đầy xúc cảm. Anh nhìn cô giáo mỉm cười rồi khẽ nghiêng đầu quay bước:
*”Nói với tà áo màu đen*
*Ai dám bảo màu đen là màu xanh trễ, màu u buồn và màu của tương lai?*
*Màu tăm tối như đêm dài, trần thế như tương lai bị nghẽn lối ngăn đường?*
*Riêng ta thấy, chỉ một mình ta thấy*
*Màu đen cười bằng mắt bằng môi*
*Màu đen reo trong gió lùa tóc rối*
*Màu buồn mặc áo cho tôi*
*Màu kín đáo như lời yêu chưa ngỏ*
*Màu bâng khuâng, màu ấp ủ tình dài*
*Màu nhận lỗi cho ta vào thương nhớ*
*Màu ăn năn như câu chuyện tương lai*
*Màu đen ơi, ôi màu đen huyền hoặc*
*Hồn ta say theo tà áo em bay*
*Tình vỗ cánh, ta nghe chừng chóng mặt*
*Không rượu nồng, không ma túy mà say…”*
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
Sau này chị tôi kể lại, không biết tại sao khi đọc xong bài thơ ấy, chị bỗng dưng khó thở, nước mắt trào ra. Chị đã cố nén mà không nén được. Cuối cùng chị cảm thấy rã rời và gục đầu trên bàn viết. Đám học trò nháo nhào chạy đi báo động với cô giáo lớp kế bên. Buổi dạy gián đoạn, khi thầy hiệu trưởng cho người đưa chị tôi về bằng xe Honda, thiếu úy Thái Bình chỉ kịp nhìn thấy một chiếc xe chạy ra khỏi cổng trường. Phía sau yên xe, cô giáo áo đen úp mặt vào vai cô giáo bạn. Anh bâng khuâng lo sợ và khắc khoải mong cho đến sáng hôm sau là chủ nhật để gặp cô giáo ở trước cổng nhà thờ. Nhưng lòng chị tôi đang xao xuyến bất an. Chị muốn trốn tránh người ấy. Chị không đi lễ nhà thờ và chỉ định bụng sẽ xin nghỉ dạy một tuần để lánh mặt, sang nhà ngoại làm bên ấy.
Thế nhưng vào lúc nửa đêm thứ bảy rạng sáng chủ nhật, đoàn quân được mật lệnh điều đi nơi khác. Các liều bạt, quân trang quân dụng được sắp xếp gọn gàng và nhanh chóng. Từng chiếc xe nhà binh nổ máy rời đi trong đêm vắng. Những chàng trai Thủy quân Lục chiến tựa vào thành xe, mắt nhìn về phía trước, mỗi người một ý nghĩ miên man. Thời chiến tranh biết nói gì hơn. Chuyến xe tiếp tục đưa những người lính đến những chiến trường đẫm máu, biết có lần nào trở về chốn cũ. Thiếu úy Thái Bình chợt nhớ đến một câu văn trong tập truyện của Duy Thành: “Giã biệt em và ngôi trường, anh ra đi với nỗi buồn thơm ngát.” Hình ảnh cô giáo với chiếc áo dài đen sẽ còn ở trong trái tim người lính cho đến khi nào. Rồi sẽ có một tà áo xanh hay áo trắng ở trạm dừng quân nào đó tiếp tục đem đến cho anh một niềm hạnh phúc mới. Những phút đam mê ấy như dòng suối mơ tưới mát tâm hồn khô trại của người lính trên những nẻo đường tàn khốc của chiến tranh, nơi ấy giữa bom đạn vô tình, người ta không thể hẹn ngày về.
50 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy. Chị tôi không còn là cô giáo trẻ nữa. Giờ đây chị đã là một cô giáo già hưu trí, vẫn sống độc thân bên cạnh dòng sông cũ, đã hơn 70 tuổi rồi. Chị hiểu được những uẩn khúc éo le của cuộc đời. Thỉnh thoảng nhắc chuyện xưa, chị mượn lời cổ nhân đã dạy: “Bất cứ ai có tình cảm, có lòng thương mến đối với mình thì đừng hỏi tại sao, hãy mở lòng ra đón nhận. Những người bạn đến hay đi qua đời ta đều để lại dấu ấn. Hãy học cách cảm ơn họ vì nhờ họ, kỷ niệm hưởng được đủ hương vị của cuộc đời.” 50 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy. Thiếu úy Thái Bình kiêu dũng ngày nào giờ cũng đã trên dưới 80 tuổi. Nếu anh còn sống sót trong cuộc chiến tranh, ước mong ở một nơi nào đó anh sống vui, sống đẹp với tuổi già thơ nhàn. Nếu đọc được dòng chữ này, anh hiểu rằng bài viết hôm nay chính là một hoài niệm. Trước khi dừng bút, xin được nói thật lòng: thiếu úy Thái Bình, anh là một nhà thơ rất hay. Bài thơ tỏ tình của anh thật mãnh liệt, đáng yêu. Nó nằm trong số những bài thơ tình tuyệt vời của thế kỷ 20 đấy. Vì thế mà chị tôi vẫn còn giữ mãi bài thơ ấy của anh cho đến tận ngày hôm nay.





