Cưới Góa Phụ U50 – Đêm Động Phòng Bà Quỳ Gối Xin Một Điều Khiến Tôi Kinh Hãi Đến Già…..

Cưới Góa Phụ U50 – Đêm Động Phòng Bà Quỳ Gối Xin Một Điều Khiến Tôi Kinh Hãi Đến Già…..
Tôi không bao giờ quên được đêm động phòng đó. Chị Dung, người phụ nữ 45 tuổi vừa trở thành vợ tôi, đột ngột quỳ xuống trước mặt tôi. Tay chị lạnh ngắc, nắm chặt tay tôi run rẩy, giọng nghẹn lại: “Em chỉ cần hứa với chị một điều thôi. Đừng bao giờ hỏi về căn phòng cuối hành lang lầu hai. Dù nghe gì, thấy gì, cũng đừng mở cửa, đừng hỏi, đừng nhắc đến. Em hứa đi!”
Tôi đứng chết lặng. Chị vừa cưới tôi, vừa quỳ xin tôi giữ bí mật về một căn phòng mà tôi chưa từng biết. Tôi gật đầu, không phải vì tin, mà vì tôi biết nếu từ chối, đêm nay sẽ không thể kết thúc yên lành. Chị đứng dậy, không cười, không nói gì thêm, chỉ lên giường nằm nghiêng, quay mặt vào tường. Tôi ngồi đó, cả người lạnh toát, không dám chạm vào chị, không dám tắt đèn. Tôi đã nghĩ mình sẽ cưới một cô gái bằng tuổi hoặc hơn vài ba tuổi. Chứ không phải chị Dung, người phụ nữ 45 tuổi, hơn tôi đúng 25 tuổi, quá chồng đã bảy năm. Khi chị ngõ lời cưới, tôi tưởng mình nghe nhầm. Mắt chị lúc đó bình thản, giọng không cao không thấp, thậm chí còn hơi khàn như đang bàn chuyện công việc: “Nếu em không có ai thì làm chồng chị đi.”
Tôi từng làm công cho nhà chị gần hai năm, ở lại trong căn nhà đó khi chẳng còn nơi nào để về. Chị đối xử với tôi không hẳn thân thiết, nhưng tuyệt đối không tệ. Chỉ là lúc nào chị cũng giữ khoảng cách, lịch sự nhưng lạnh lẽo. Tôi bật cười, tưởng chị nói đùa. “Chị nói thật á hả? Em còn nhỏ mà, cưới xin gì vội.” Chị đáp: “Nhỏ thì có sao chứ? Người sống với chị không cần lớn, chỉ cần biết giữ lời thôi.”
Tôi im. Lúc đó tôi nghĩ đến hai năm qua mình ngồi ăn dưới mái hiên nhà chị những bữa cơm thừa, nghĩ đến những lúc tôi cảm sốt nằm vật, chị để sẵn thuốc với tấm khăn ấm. Không hỏi han nhiều, không an ủi, chỉ để đó rồi đi. Chị không cần tôi thương, chỉ cần tôi chịu gật đầu. Và tôi đã gật đầu, không phải vì yêu mà vì nghĩ mình nợ chị.
Đám cưới không rình rang. Chị nói: “Làm đơn giản thôi, chủ yếu cho có giấy tờ. Mình không cần ai hiểu, mình hiểu là được.” Ngày cưới, tôi mặc bộ vest chị tự tay đo và đặt may. Chị mặc áo dài đen nhung, tóc búi thấp, không son phấn. Lúc đứng trước bàn thờ thắp nhang cho chồng cũ của chị, tôi liếc thấy tay chị run nhẹ. Chị không khóc, nhưng tôi biết chị đang gồng lên để che giấu điều gì đó. Đêm đó tôi tỉnh giấc lúc 2 giờ sáng, không phải vì lạnh, không phải vì mộng mị, mà vì một tiếng hét từ tầng hai vọng xuống: “Không, đừng mà, đừng đến gần tôi!” Tôi bật dậy như bị ai kéo lên, tim đập thình thịch. Tôi nhìn sang bên cạnh, chị vẫn nằm đó, mắt mở và chị đang nhìn tôi chằm chằm, tỉnh bơ như chưa từng ngủ.
Sáng hôm sau, tôi đi chân trần xuống nhà, mùi cháo trắng bốc lên. Chị Dung đang đứng bên bếp, tay khuấy nồi, dáng người thẳng tắp. Chị nghe tiếng bước chân nhưng không quay lại, chỉ buông một câu: “Em dậy rồi thì rửa mặt đi, chị nấu cháo rồi.” Tôi ngồi xuống bàn ăn, quan sát chị trong im lặng. Cả người chị toát ra vẻ bình thản như thể hôm qua chẳng có gì đặc biệt. Tôi cất tiếng, giọng dè dặt: “Chị, tối qua chị có nghe thấy tiếng gì không?” Chị không đáp, chỉ múc cháo ra đặt trước mặt tôi, rồi thìa cũng để ngay ngắn bên cạnh, mới nói: “Cháo còn nóng, em ăn đi.” Câu đó khiến tôi không dám hỏi tiếp. Tôi cắm cúi ăn cháo, trong đầu lởn vởn câu hỏi: chị đang né tránh hay chị thực sự không nghe thấy gì?
Sau bữa ăn, khi tôi đang rửa chén, chị ngồi xuống ghế, tay cầm khăn lau khô chậm rãi rồi bất ngờ lên tiếng: “Từ hôm nay em không được ra khỏi nhà sau 7 giờ tối, biết chưa?” Tôi quay đầu lại: “Sao vậy chị?” Chị không nhìn tôi, giọng đều đều: “Đêm là để nghỉ ngơi, không phải để rong chơi. Em có chị là đủ rồi.” Tôi gật đầu dù trong lòng hơi khó chịu. Chị nói tiếp: “Điện thoại em mang ra phòng khách để, không được cầm vào phòng ngủ và không được gọi điện sau 8 giờ tối.” Tôi hỏi nhỏ: “Em có bạn bè, lâu lâu cũng cần gọi chút mà chị.” Chị ngẩng lên, ánh mắt từ nãy giờ né tránh bỗng nhiên nhìn thẳng vào tôi: “Bạn bè gì ở tuổi này chứ? Bây giờ em là chồng chị rồi, không còn là thằng nhỏ lang thang ngoài đường nữa.”
Chiều hôm đó tôi lấy áo phơi ngoài sân thì vô tình thấy bảng tên trước cửa phòng trên lầu hai: TRÍ. Tôi nhìn bảng tên đó tới mấy giây, trong lòng trào lên một thứ gì đó mơ hồ. Tối đến, trong lúc ngồi gọt trái cây cùng chị, tôi thử hỏi nhỏ: “Chị Dung nè, Trí là ai vậy chị? Em thấy cái bảng tên trước cửa phòng tầng hai.” Chị đang gọt táo, tay dừng lại giữa chừng. Một lát sau, chị đặt con dao xuống, quay thẳng người lại. Ánh mắt chị sắc lạnh, vừa tức giận vừa tổn thương như có ai đó vừa cào rách một vết sẹo cũ: “Chị đã nói đừng hỏi mà, em không nhớ hả?” Tôi vội phân bua: “Không phải em cố tình, chỉ là hồi sáng em phơi đồ, em ngước lên cái thấy cái tên đó nên em thắc mắc thôi.” Chị gắt: “Thắc mắc cái gì? Chị không muốn cái tên đó được nhắc lại trong cái nhà này. Lần sau mà còn hỏi nữa, chị đuổi em ra khỏi nhà.” Tôi ngớ người. Chị chưa bao giờ lớn tiếng như vậy, chưa bao giờ dùng từ “đuổi” với tôi. Giọng chị run nhẹ, môi mím chặt, mắt đỏ hoe nhưng không rơi nước. Tôi chỉ kịp lắp bắp: “Em xin lỗi, sau này em không hỏi nữa đâu.”
Tối hôm ấy, tôi nằm một mình, nhìn trần nhà và thấy mình hóa ra không phải là chồng, cũng chẳng phải người nhà. Tôi chỉ là một người được đưa vào đây ký giấy cưới để rồi sống trong một khuôn khổ chẳng thể hỏi, không thể rời đi và cũng không thể hiểu hết. Tôi từng nghĩ cưới một người phụ nữ hơn tuổi sẽ là một lối rẻ an toàn. Vậy mà chỉ sau một tuần, tôi bắt đầu cảm thấy mình chẳng khác nào người bị giám sát….
Mọi thứ trở nên tệ hơn sau hôm tôi đi mua thuốc cho chị. Khi tôi trở về, túi thuốc còn ấm trong tay, chị xuất hiện, gương mặt trắng bệt, mắt đỏ quạch. Chị đứng chắn ngang lối rồi đột ngột nói lớn:….
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
**PHẦN 2**
Mọi thứ trở nên tệ hơn sau hôm tôi đi mua thuốc cho chị. Khi tôi trở về, túi thuốc còn ấm trong tay, chị xuất hiện, gương mặt trắng bệt, mắt đỏ quạch. Chị đứng chắn ngang lối rồi đột ngột nói lớn: “Chị đã nói bao nhiêu lần là không được ra khỏi nhà ban đêm, bộ em không nhớ hả?” Tôi ngớ người, giơ túi thuốc lên: “Thì em chỉ ra ngoài mua thuốc giùm chị thôi mà. Lúc nãy chính chị bảo em đi mà.” Chị không trả lời, bước tới gần, giật lấy túi thuốc, liếc nhanh rồi đặt xuống bàn. Rồi chị rút từ túi áo ra một chiếc chìa khóa và bước thẳng lên tầng. Lúc tôi còn chưa kịp phản ứng, chị đã quay lại, tay cầm thêm một thiết bị nhỏ màu đen có đầu vân tay. Chị gắn nó vào tay nắm cửa phòng tôi rồi đứng đó, giọng sắc như lưỡi dao: “Từ nay muốn vào phòng thì nói với chị, chị sẽ mở.” Tận lúc ấy tôi mới nhận ra tôi không còn là chủ của căn phòng mà mình ngủ trong đó.
Mấy ngày sau, tôi vô tình phát hiện một chiếc camera nhỏ gắn trên trần, ẩn khéo léo trong chậu cây treo tường. Tôi hỏi nhẹ: “Chị Dung nè, nhà mình có gắn camera luôn á hả?” Chị đang gọt cam, ngước lên rất chậm rồi nói đều đều: “Ừ, chị lắp từ lâu rồi, từ trước khi cưới lận, vì sợ trộm đó.” Bà buông dao, ngồi thẳng lưng: “Nếu em không làm gì sai thì em sợ gì cái camera đó.” Tôi nuốt nghẹn. Lạnh từ ánh mắt của chị, từ cái cách chị luôn dùng lý lẽ để hợp pháp hóa sự kiểm soát. Cứ như chỉ cần kiểm soát, chị mới thấy mình an toàn.
Tôi muốn rời đi nhiều lần nhưng tôi đi đâu? Giấy tờ cưới có thật, bạn bè không ai tin. Họ còn bảo tôi sướng như tiên, lấy được vợ giàu, có nhà ở, có tiền tiêu. Tôi từng nói với một người bạn thân qua điện thoại: “Tao thấy tao như cái bóng ma trong cái nhà này. Tao không dám nói, không dám thở mạnh. Tao sống nhưng mà không có quyền gì hết.” Bạn tôi cười: “Sống sướng như mày mà còn kêu nữa.” Tôi cúp máy, nằm im trong bóng tối. Căn phòng khi ấy tắt đèn nhưng tôi biết có một cái camera nhỏ đang theo dõi.
Rồi Trí xuất hiện. Một ngày mưa, anh ta đứng thẳng trước hiên nhà, kéo vali, mặt lạnh như băng. Tôi lên tiếng: “Dạ, anh tới tìm ai vậy?” Anh ta liếc nhìn tôi từ đầu đến chân, nhếch môi: “Mày là ai mà hỏi?” Tôi hơi sượng, định nói thì từ phía sau giọng chị Dung vang lên: “Trí về rồi hả?” Người thanh niên cười nhạt: “Về chứ, về coi mẹ tôi còn làm ra cái trò gì nữa.” Anh ta nhìn tôi: “Mày cũng chỉ là con chó canh nhà cho mẹ tao thôi. Bao nhiêu tiền một tháng?” Tôi siết tay lại: “Anh không có quyền nói kiểu đó. Tôi là chồng của chị Dung.” Chị Dung lao xuống thềm, giọng rít lên: “Câm miệng! Không ai cho phép em nói chuyện kiểu đó với nó. Nó là con trai của chị.” Trí bật cười đầy khinh bỉ: “Giấy kết hôn hả? Mẹ cưới một thằng nhỏ hơn con trai mình có năm tuổi, lấy cái giấy kết hôn đó ra để làm gì?”
Từ khoảnh khắc ấy, tôi trở thành vật thể thừa trong chính ngôi nhà tôi đang sống. Trí vào nhà đi lại như thể nó là chủ. Cả bữa cơm tối hôm đó không ai nói với ai một câu. Tôi nằm quay mặt vào tường, nghe tiếng bước chân Trí đi qua lại ngoài hành lang. Mỗi bước chân là một nhịp co thắt trong tim tôi. Tôi tự hỏi mình đang ở đâu trong căn nhà này, là chồng, là khách hay là một dạng vật thể chị Dung cần dùng cho một mục đích mà tôi chưa biết.
Đêm hôm đó, chị Dung gõ cửa phòng tôi. Tôi ra phòng khách, bàn trà đã chuẩn bị sẵn, một chén nước ấm, một cây nhang đã đốt được nửa đoạn và một quyển sách mở sẵn. Chị đưa tôi cuốn sổ bọc vải đỏ: “Em đọc chỗ này chậm thôi, đọc rõ từng chữ.” Tôi hỏi: “Đây là cái gì vậy chị?” Chị ngồi thẳng lưng: “Là bài giữ bình an. Chị đọc một mình không đủ, cần người đọc chung.” Tôi cầm lấy, bắt đầu đọc. Từng câu chữ phát ra khỏi miệng tôi khô khốc và lạnh lẽo. Chị ngồi đối diện không chớp mắt. Tôi hỏi: “Chị thật sự tin mấy cái này sao?” Chị nhìn tôi, giọng yếu đuối hiếm thấy: “Em không biết đâu. Sau khi ba Trí mất, chị đi khắp nơi, ai cũng nói chị phạm âm khí. Người ta bảo nếu không có đàn ông trẻ tuổi bên cạnh, chị sẽ không sống qua tuổi 50.” Tôi sửng người: “Vậy nên chị cưới em là để cân bằng khí, cân bằng âm dương?” Chị không trả lời. Đêm đó tôi trở về phòng, nằm co người như đứa trẻ. Tôi bắt đầu sợ cái niềm tin tuyệt đối, cố chấp và lệch lạc trong mắt chị Dung.
Từ hôm đó, tối nào tôi cũng đọc. Đúng 10 giờ, chị gọi tôi ra phòng khách. Lúc đầu tôi ngập ngừng, sau thì đọc như một cái máy. Chỉ nói một câu mà đến giờ tôi còn ám ảnh: “Chị biết em không tin, nhưng có tin hay không em vẫn phải đọc. Nếu chị gục xuống, người đầu tiên bị kéo theo sẽ là em.”
Một buổi chiều, Trí bất ngờ gõ cửa phòng tôi. Anh ta đẩy cửa bước vào, miệng phả ra câu cục lủng: “Đi với tôi, có chuyện cần nói.” Tôi đi theo anh ta đến quán cà phê. Trí đặt trước mặt tôi một cuốn sổ tay da cũ: “Đọc đi, của ba tôi đó.” Tôi lật dở những trang đầu, tay run khi đọc: “Dung nói tôi đang bị vong theo. Cô ấy bảo phải làm lễ, phải trấn yểm long mạch để giữ gia sản.” Trí nói: “Ba tôi tự tử. Một ngày nọ, tôi về nhà thấy ông treo cổ trên căn phòng cuối cùng ở tầng hai. Không để lại thư tuyệt mệnh, chỉ có cuốn sổ này.” Anh ta nhìn thẳng vào tôi: “Mày là thằng thế mạng tiếp theo. Mày không thấy hả? Mày đang thay vai ba tao đọc kinh, bị giam lỏng, làm chồng mà sống như kẻ bị nuôi trong lồng. Đó không phải là hôn nhân, đó là một dạng hiến tế.”
Tôi về nhà trong trạng thái vỡ vụn. Vừa đẩy cửa bước vào, tôi đã thấy cảnh tượng quen thuộc. Bàn trà dọn sẵn, cây nhang đang cháy dở, cuốn sổ đỏ mở ra đúng trang cũ. Chị Dung ngồi đó, giọng nhẹ nhưng mong chờ: “Chị pha trà rồi, em vào đọc đi.” Tôi đứng bất động nơi cửa, bàn tay vẫn bám lấy tay nắm cửa. Tôi không trả lời, xoay người bước thẳng lên lầu. Phía sau giọng chị vang lên, lần đầu tiên như van nài: “Em mà bỏ dở giữa chừng, chị không chịu nổi đâu.” Tôi dừng lại ở bậc thang thứ năm, không quay đầu, không trả lời. Đêm đó tôi không xuống, không đọc, không giải thích.
Sáng hôm sau, Trí đến sớm: “Chuẩn bị đi, hôm nay đi gặp bác sĩ.” Tôi theo anh ta đến phòng khám tư. Bác sĩ, một người đàn ông lớn tuổi, nói: “Bà ấy không điên mà là rối loạn hoang tưởng sau chấn thương tâm lý. Bà tin rằng mình bị nguyền rủa, rằng chỉ cần có đàn ông trẻ ở cạnh thì luồng âm khí mới không kéo bà xuống vực.” Trí đưa hồ sơ ra. Tôi viết đơn trình báo lên cơ quan chức năng: bị tịch thu điện thoại, hạn chế ra ngoài, ép đọc kinh.
Ba ngày sau, công an có mặt. Tôi đứng bên cạnh họ khi chị mở cửa. Chị lùi lại một bước, mặt tái nhợt. Tôi nhìn chị, nhẹ giọng: “Em xin lỗi nhưng em không thể sống như vậy nữa.” Họ khám xét, tìm thấy camera, điện thoại của tôi bị tháo sim. Khi thông báo quyết định áp giải đi giám định bắt buộc, chị quay sang tôi, mắt đỏ hoe: “Em biết không? Chị chỉ cần mỗi tối có em ngồi cạnh, chị mới ngủ yên được. Bây giờ chắc chị lại bị giấc mơ đó hành thôi.” Tôi đứng yên, ngực nặng trĩu, không trả lời.
Từ sau hôm đó, tôi không ở lại căn nhà thêm một đêm nào. Tôi dọn về khu trọ cũ. Người ta bàn tán, nhưng lần đầu tiên tôi thấy có người tin tôi dù họ chẳng hề quen biết. Còn về Trí, anh ta không gọi cho tôi nữa. Người bạn làm ở bệnh viện tâm thần nói: “Cậu Trí vẫn đều đặn vào thăm mẹ, cứ ngồi đúng một tiếng không nói gì.”
Nhiều người hỏi tôi có hối hận không. Tôi không biết trả lời sao. Vì cái tôi trải qua không đơn giản chỉ là một cuộc hôn nhân sai lầm. Nó là nơi tôi buộc phải lớn, phải nhìn sự thật và phải chọn giữa việc giữ im lặng cho êm ấm hay làm tổn thương ai đó để bảo vệ chính mình. Tôi không còn sợ hôn nhân. Tôi chỉ hiểu rõ hơn cái giá của một sự gắn bó không đến từ tình cảm thật, mà xuất phát từ sự tổn thương và niềm tin sai lệch. Tôi từng nghĩ cưới một người lớn tuổi hơn là chọn sự yên ổn. Nhưng sau câu chuyện này, tôi hiểu tuổi tác không quyết định sự trưởng thành, và tổn thương không điều trị sẽ biến con người thành gông xiềng cho người khác.
Đôi khi trong cuộc đời, chúng ta bước vào một mối quan hệ không vì yêu mà vì biết ơn, vì trách nhiệm. Nhưng sự thương hại không thể cứu lấy một tâm hồn đang rạn vỡ. Và sự im lặng đôi khi không phải là sự dịu dàng mà là cách chúng ta tiếp tay cho một bi kịch khác lớn hơn diễn ra.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!