Nữ Đại Úy Chết Lặng Khi Phát Hiện Chồng Mất Tích 5 Năm Đang Ăn Xin Ven Đường, Hung Thủ Lại Chính Là…………

Nữ Đại Úy Ch/ết Lặng Khi Ph/át Hi/ện Chồng M/ất Tíc/h 5 Năm Đang Ăn Xi/n Ven Đường, Hun/g Th/ủ Lại Chính Là…………

Tôi tên Nguyễn Ngọc Hân, 34 tuổi, đại úy công an. Năm năm qua, tôi sống giữa hy vọng và tu/yệt v/ọng. Chồng tôi tên Trần Minh Đức, hơn tôi hai tuổi, làm kỹ thuật điện. Ngày anh m/ất tíc/h là 17/11, cách đây đúng năm năm.

Đêm hôm trước, anh gọi lúc hơn 11 giờ. Tôi đang họp nên tắt máy. Đến hơn 1 giờ sáng, anh gửi đoạn ghi âm chưa đến 20 giây: “Hân, nếu sáng mai anh không về, em đừng tin những gì người ta nói. Anh đã nhìn thấy thứ không nên nhìn thấy. Em nhớ chăm con, đừng quay lại kho gạch.”

Sáng hôm sau, xe máy của anh được tìm thấy bên bờ sông. Chìa khóa vẫn cắm trên ổ, một chiếc dép cách xe vài mét, trên yên có vệ/t má/u khô. Công an tìm kiếm ba ngày không thấy th/i th/ể. Người ta bảo anh bị tấn công rồi rơi xuống sông. Tôi không tin. Anh bơi giỏi lắm.

Mẹ chồng tôi ngồi bên xe con trai, hai tay ôm chiếc áo anh từng mặc, lặp đi lặp lại: “Con bà biết bơi rất giỏi, không thể ch/ết dư/ới khúc sông ấy.” Bé Minh Thư khi đó mới bốn tuổi chạy ra hỏi: “Bố đang trốn ở đâu, sao mọi người không gọi bố về ăn cơm?” Tôi ôm con nhưng không trả lời được.

Suốt năm năm, tôi sống trong chiếc bẫy không tên. Mỗi tối tôi mở lại đoạn ghi âm cuối cùng, nghe từng tiếng gió, tiếng kim loại va chạm. Mẹ chồng bảo tôi lập bàn thờ cho anh. Tôi quỳ trước mặt bà: “Con không thể đặt di ảnh của chồng lên bàn thờ khi trong lòng vẫn tin anh đang sống ở đâu đó.” Bà nhìn tôi rất lâu: “Nếu nó còn sống, tại sao nó không trở về với con gái nó?” Tôi không biết trả lời.

Rồi một ngày, tôi nhận được tin về một người đàn ông không rõ lai lịch xuất hiện ở khu chợ huyện cách quê tôi hơn 100 cây số. Người báo tin nói người ấy khoảng ngoài 30 tuổi, có vết sẹo dài bên vai và thường giật mình khi nghe tiếng còi xe lớn.

Tôi nghỉ phép, ghé qua trước khi về nhà. Tôi đã từng chạy hàng trăm cây số chỉ để nhìn một khuôn mặt xa lạ, nên thêm một lần th/ất vọn/g cũng không còn là điều khiến tôi sợ nhất.

Tại chợ, một người đàn ông từ dãy quán cơm bước ra. Anh mặc áo sơ mi bạc màu, rách một đường ở vai, tóc dài bết bùn, dáng gầy đến mức lưng cong xuống. Nhưng khi đứng dậy, anh có động tác rất quen: chân trái bước trước, chân phải kéo theo sau. Anh Đức từng bị ta/i n/ạn, xươ/ng cổ chân phải không liền hoàn toàn, mỗi khi đi nhanh anh thường kéo chân phải chậm hơn một nhịp.

Tôi bước nhanh, gọi khẽ: “Anh Đức!” Người đàn ông khựng lại. Tôi gọi lần nữa, to hơn. Anh quay đầu rất chậm. Gò má h/óp sâu, da xạm đen, một vế/t s/ẹo từ thái dương xuống tai. Anh nhìn tôi như người xa lạ rồi lùi lại. Chiếc túi thức ăn tuột xuống. Anh cúi nhặt, tay áo kéo lên để lộ cổ tay trái với vòng chỉ đỏ đã bạc màu. Năm năm trước, tôi tự tay buộc cho anh ba nút. Tôi không thể nhầm.

Tôi lao tới nắm cổ tay anh. Anh gi/ật mạ/nh, hất tay tôi ra, kêu lên một tiếng khàn đặc rồi bỏ chạy. Tôi đuổi theo. Đến cuối ngõ, anh vấp ngã. Anh nhặt khúc gỗ chĩa về phía tôi, miệng phát ra những tiếng ú ớ. Vai áo rách tuột xuống, để lộ vết sẹo hình lư/ỡi li/ềm dưới xương bả vai. Vết sẹo có từ hồi anh còn nhỏ trèo cây bị mảnh trai cắm vào vai. Không thể có hai người xa lạ cùng dáng đi, cùng thói quen, cùng chiếc vòng chỉ đỏ và cùng vết sẹo.

Tôi quỵ xuống, đặt hai tay xuống đất: “Em là Hân, em không bắt anh, em chỉ muốn đưa anh đi ăn một bữa cơm nóng.” Khi nghe tên tôi, anh nhíu mày, tay cầm khúc gỗ run mạnh. Trong khoảnh khắc, ánh mắt anh như có gì vừa thức dậy, nhưng ngay sau đó lại bị nỗi sợ phủ kín. Anh quay lưng trèo qua tường và biến mất………….

Mờι quý ƌọc gιả ƌọc pҺầп PHẦN 2 ( PHẦN KẾT ) của cȃu cҺuүệп dưới phần Ьình luận ƌầu tiên……….
👇👇👇

Tôi quay lại chợ hỏi về anh. Một bà bán bánh rán nói người đàn ông ấy xuất hiện khoảng hai năm nay, không ai biết tên, mọi người gọi là Cơm vì anh gần như không nói. Anh rất sợ đàn ông mặc áo đen và thường bỏ chạy khi nghe ai nhắc đến kho gạch.

Tôi thuê phòng trọ, bắt đầu lần theo con đường ra bãi giác. Tôi thấy anh cúi đầu nhặt thức ăn thừa từ thùng rác, gói vào mảnh nilon rồi đi về cuối thị trấn. Túp lều của anh ghép từ vài tấm tôn méo và thanh gỗ mục. Trong lều chỉ có chiếc chiếu rách, một chiếc chăn mỏng và vài chai nước.

Tôi đến bãi giác mỗi ngày, mang thức ăn, nước uống, thuốc s/át trù/ng. Ngày thứ ba, tôi thấy anh đã mặc chiếc áo sạch tôi để lại. Ngày thứ tư, anh chủ động ngồi gần hơn. Ngày thứ năm, trời mưa lớn, anh lên cơn hoảng loạn khi nghe tiếng sấm. Tôi lao vào giữ tay anh. Lần này anh không chạy, chỉ gục đầu vào vai tôi. Tôi ôm lấy người chồ/ng g/ầy chỉ còn da b/ọc xư/ơng. Bàn tay anh vô thức nắm vạt áo tôi, đúng như cách anh từng nắm tay tôi mỗi khi ngủ gặp ác mộng. Tôi vỗ nhẹ lưng anh: “Không ai đánh anh nữa, từ giờ sẽ không ai nhốt anh nữa.”

Sau cơn mưa, anh sốt cao, vết thương dưới bàn chân sưng đỏ. Nhờ ông Bảy, một người nhặt phế liệu, tôi đưa anh vào bệnh viện. Kết quả cho thấy anh từng bị chấn thương sọ não, có vết sẹo trên cổ tay và mắt cá chân hình dấu bị buộc, và từng bị sử dụng thuốc an thần dài ngày.

Đêm đầu tiên, anh mê sảng, quờ quạng như chống lại ai đó, miệng gọi: “Không lấy sổ”, “Kho gạch dưới nền đừng đốt”. Rồi bất ngờ anh gọi rất rõ: “Anh Hùng, em đã coi anh như anh ruột.” Tôi chết lặng. Anh Hùng là người anh họ, người đã chạy khắp nơi tìm kiếm Đức, đưa mẹ chồng đi viện, sửa mái nhà, đóng tiền học cho con. Suốt năm năm, họ hàng đều khen anh có nghĩa có tình.

Tôi bắt đầu nhìn lại. Người thợ sửa xe nhớ sáng hôm sau khi Đức mất tích, anh Hùng đưa xe đến thay tấm lót phía sau, dính bùn đỏ và có mùi tanh lạ. Một người bạn của Đức kể trước khi mất tích ba ngày, Đức đến gặp anh, nói đang giữ bằng chứng về tiền đền bù đất bị rút bớt của nhiều hộ dân, người đứng sau là người trong họ. Anh Tuấn còn giữ tin nhắn Đức gửi đêm mất tích: “Anh Hùng gọi em ra kho, có gì sáng mai em báo.”

Tôi tìm đến kho gạch. Dưới một viên gạch khác màu, chúng tôi tìm thấy chiếc hộp sắt chứa cuốn sổ bìa nâu. Bên trong là danh sách các hộ dân bị rút tiền đền bù, bản sao phiếu nhận tiền với chữ ký giả, tên những người tham gia: Nguyễn Văn Hùng và ông Phạm Quang Lợi, nguyên cán bộ địa chính. Trong bản viết tay của Đức đề ngày trước khi mất tích: “Tôi sẽ gặp anh Hùng lần cuối ở kho gạch. Nếu anh ấy chịu trả lại tiền và tự thú, tôi sẽ cho anh ấy cơ hội. Nếu không, sáng mai tôi giao toàn bộ cho Hân.”

Chính lòng tin vào tình thân đã đưa anh đến kho gạch trong đêm. Chính tôi đã tắt máy cuộc gọi cuối cùng của chồng.

Khi bằng chứng đã đủ, tôi đối diện với anh Hùng. Anh ta thừa nhận đã cùng ông Lợi nâng khống chi phí, làm giả hồ sơ để rút tiền. Anh ta thú nhận đêm ở kho gạch, khi Đức nói sẽ giao bằng chứng cho tôi, anh ta hoảng sợ và đánh vào đầu Đức. Nhưng điều khiến tôi chết lặng nhất là lời thú tội cuối cùng: “Từ trước khi cháu lấy Đức, anh đã có tình cảm với cháu.” Anh ta tin nếu Đức biến mất, thời gian sẽ khiến tôi buông bỏ. Anh ta không muốn giết Đức vì sợ tội giết người, nhưng muốn anh sống như chiếc bóng, không thể trở về, không thể kể lại điều gì.

Khi bị đưa đi, Hùng hỏi tôi có từng nhận ra tình cảm của anh ta không. Tôi đáp: “Điều anh dành cho tôi chưa bao giờ là tình cảm. Bởi người thật lòng thương một người phụ nữ sẽ không biến chồng cô ấy thành kẻ ăn xin và con cô ấy thành đứa trẻ mồ côi khi cha vẫn còn sống.”

Sau năm năm, Đức trở về. Anh nhớ được tên mẹ, tên tôi, tên Minh Thư, nhưng có những ngày anh nhìn tôi như người lạ. Anh không chịu ngủ trên giường, giấu bánh mì trong túi áo, nhặt chai nhựa để ở góc sân. Tôi không ép. Tôi để một chiếc giỏ nhỏ cạnh cửa nói nếu muốn giữ chai thì để vào đó. Tôi luôn để hộp bánh trong tủ và cho anh biết thức ăn sẽ không bao giờ bị lấy mất.

Ngày đầu tiên bố về, Minh Thư không dám lại gần. Đến khi anh lấy từ túi áo ra một con thuyền giấy, con bé mới bật khóc chạy đến ôm cha. Anh đứng cứng người vài giây rồi vụng về đặt tay lên đầu con. Tình cha con có thể bị thời gian làm mờ nhưng không dễ bị xóa sạch.

Tôi không còn hỏi anh có nhớ ngày cưới hay không, không ép anh kể lại đêm ở kho gạch. Tôi cùng anh bắt đầu bằng những điều mới. Buổi sáng, hai vợ chồng đi bộ quanh sân. Buổi chiều, anh ngồi cùng Minh Thư tập viết tên. Mẹ chồng trồng một luống rau nhỏ, giao cho anh tưới nước.

Một tối mất điện, cả nhà ngồi ngoài hiên. Anh Đức hỏi: “Vì sao em không đi lấy chồng khác?” Tôi nói vì chưa bao giờ tin anh đã chết. Anh bảo mình bây giờ không còn giống người chồng trước kia. Tôi trả lời: “Anh không còn giống người chồng trước kia, em cũng không còn là người vợ của năm năm trước. Nếu cả hai đều đã đổi khác thì có thể cùng làm quen lại từ đầu.”

Bây giờ, anh Đức đã ngủ được trên giường, đã ăn cơm cùng gia đình và không còn hoảng loạn mỗi khi nghe tiếng còi tàu. Minh Thư vẫn giữ con thuyền giấy bố tặng. Mẹ chồng không ngồi đợi ngoài ngõ nữa, nhưng sáng nào cũng dậy sớm nấu món cháo anh thích.

Năm năm không có một nấm mồ đã lấy đi của gia đình tôi rất nhiều thứ, nhưng nó cũng dạy tôi rằng niềm tin cần đi cùng tỉnh táo, tình thân phải có ranh giới, còn sự im lặng trước cái sai chưa bao giờ là bình yên. Người tôi chờ đã trở về không còn nguyên vẹn, nhưng anh vẫn còn trái tim biết thương mẹ, nhớ con và nắm lấy tay vợ trong đêm tối. Như thế đã là một phép màu.

Bởi có những mái nhà không thể trở lại như cũ, nhưng chỉ cần những người bên trong vẫn còn muốn bước về phía nhau, nơi ấy vẫn có thể một lần nữa được gọi là gia đình.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!