15 Năm Vợ Còng Lưng Nuôi Cả Nhà, Chồng Thành Phố Bỏ Mặc – Ngày Ông Ta Dẫn Bồ Về Định Chiếm Nhà , Bị Cả Làng Đu/ổi Th/ẳng Cổ…
—
Tôi tên Lan, 65 tuổi, quê ở Thái Bình. 15 năm trước, chồng tôi Thành lên Hà Nội làm quản lý kho. Từ đó, ông ta chuyển hết mọi gánh nặng lên vai tôi. Bố chồng tôi bị liệt sau tai nạn, mẹ chồng già yếu, con gái còn nhỏ, ruộng vườn, gà lợn, tất cả một tay tôi lo liệu. Thành mỗi tháng gửi về 2 triệu đồng, coi như đã trọn trách nhiệm làm con làm cha. Khi tôi gọi xin thêm tiền thuốc men, ông ta quát tháo: “Bán thóc bán lợn đi mà lo! Tôi ở thành phố đắt đỏ lắm!”
Những năm đó, tôi dậy từ 3 giờ sáng đồ xôi, gánh ra chợ huyện bán. Xong lại tất tả về thay bỉm, bón cháo cho bố chồng, rồi chạy ra đồng làm thuê. Đôi bàn tay tôi trai sần, chai cứng, nhưng không bao giờ than vãn một lời. Mẹ chồng thương tôi lắm, bà thường khóc khi thấy con dâu còng lưng dưới mưa vì chuyến hàng ế ẩm.
Cho đến ngày con gái tôi lên Hà Nội học đại học. Nó tìm đến chỗ bố, thấy ông ta sống cùng một người phụ nữ lạ mặt trong căn hộ cao cấp. Tôi gọi điện hỏi, Thành thản nhiên thừa nhận đã sống với Lệ hơn 3 năm. Ông ta bảo: “Xã hội bây giờ đàn ông năm thê bảy thiếp là bình thường. Em suốt ngày quanh quẩn bếp núc, không giúp gì được sự nghiệp của tôi.”
Tôi không khóc. Nhưng mẹ chồng tôi khóc. Bố chồng dù nằm liệt cũng gồng mình ném cốc chè về phía Thành, tuyên bố từ mặt đứa con bất hiếu. Ông cụ lập di chúc, tước toàn bộ quyền thừa kế của Thành, để lại tất cả cho tôi. Mẹ chồng sau đó cũng làm thủ tục sang tên sổ đỏ cho tôi trước khi mất. Nửa đêm bà gọi tôi vào buồng, nhấc gối lên lấy chiếc hộp gỗ: “Tiền đền bù ruộng 60 triệu, con cầm lấy lo ma chay khi mẹ chết. Phần còn lại làm vốn buôn bán. Đừng để thằng Thành biết.”
Tôi cầm chiếc hộp, quỳ xuống bên giường, nước mắt lăn dài. Bà cụ vuốt tóc tôi: “Con chịu khổ mười mấy năm, mẹ không bao giờ quên. Giờ tài sản này là của con.”
Tôi dùng số tiền đó, cùng tiền tích góp bán xôi suốt bao năm, mở một sạp hàng cố định ở chợ. Quán đông khách, tôi thuê thêm hai người phụ việc. Mỗi tháng, tôi đều đặn gửi tiết kiệm. Con gái tôi ra trường, làm kiểm toán, lấy chồng, sinh cháu. Tôi lên Hà Nội bồi dưỡng hai mẹ con, mang đồ ăn sạch từ quê lên.
Sau mấy năm, ngôi nhà ngói ba gian xuống cấp quá nặng, tôi quyết định xây mới. Tôi rút tiền tiết kiệm, gọi thợ đổ móng, xây mái thái ba gian, lát sân gạch đỏ. Ngôi nhà khang trang sừng sững nhất con đường làng. Mọi người trầm trồ: “Bà Lan giỏi quá, một mình gây dựng cơ ngơi thế này.”
Tôi cũng tìm được một người bạn đời mới – Minh, người thợ mộc hàng xóm. Ông hiền lành, tốt bụng, thường sang giúp tôi sửa chữa, tối mưa đèo cháu tôi đi bệnh viện khi nó sốt cao giữa đêm. Chúng tôi đăng ký kết hôn, tổ chức một lễ mừng thọ 60 tuổi và kỷ niệm ngày cưới tại sân nhà. Cả làng đến ăn mừng.
Đúng lúc đó, Thành về quê. Ông ta nghỉ hưu, đưa Lệ theo, định chiếm nhà tôi để dưỡng già. Thành đã bàn bạc với nhân tình: sẽ bắt tôi làm osin, nấu cơm giặt giũ, nhường phòng lớn cho họ. Ông ta chắc mẩm mình là con trai ruột, đất đai đương nhiên thuộc quyền thừa kế. Ông ta thuê xe tải chở cả giường, tủ, tivi, vali quần áo đầy ăm ắp về.
Xe tải dừng trước cổng nhà. Thành nhìn thấy cánh cổng nhôm bốn cánh đồ sộ, khoảng sân bê tông rộng rãi, bóng đèn, rạp tiệc, khách khứa đông đúc. Ông ta bàng hoàng. Trên phông bạt treo dòng chữ: “Lễ mừng thọ 60 tuổi bà Nguyễn Thị Lan và kỷ niệm một năm ngày cưới.” Giữa sân khấu, tôi mặc áo dài đỏ, tay cắt bánh kem bên người chồng mới, dưới chân là hai đứa cháu ngoại gọi “bà ngoại” ríu rít.
Thành lao vào giữa rạp, mặt tái mét: “Ai cho mày lấy chồng trên đất nhà tao? Ai cho mày xây nhà?” Ông ta hét lớn, hất cả ghế. Lệ đứng sau phụ họa: “Mày là đồ ăn bám, phải dọn xuống bếp nhường nhà trên cho bọn tao!”
Trưởng thôn đứng lên: “Thành à, mày không còn tư cách ở đây nữa đâu.” Ông lấy ra một tập hồ sơ, đưa cho Thành xem. Đó là………….
bản di chúc bố mẹ ông ta để lại, sổ đỏ mang tên Nguyễn Thị Lan, có dấu đỏ của Ủy ban huyện.
Thành cầm cuốn sổ đỏ, tay run bần bật. Ông ta không tin nổi. Anh cán bộ địa chính cầm micro giải thích: “Bố mẹ ông đã lập di chúc rõ ràng, tước quyền thừa kế của ông vì tội bất hiếu. Toàn bộ đất đai đã được sang tên cho bà Lan hợp pháp. Ông không còn quyền gì ở đây nữa.”
Mọi người xì xào, chỉ trỏ vào Thành. Một bác họ đứng dậy mắng: “Bố mày nằm liệt tám tháng, mày không về thay lần bỉm. Mẹ mày hấp hối, mày tắt máy. Bây giờ về tranh công hả?” Hàng xóm đồng loạt yêu cầu ông ta ra khỏi nhà.
Thành biết không thể cãi lại, bèn ngồi phịch xuống thềm gào khóc ăn vạ: “Tôi còn 5 triệu lương hưu, tôi nuôi gia đình suốt bao năm… Tôi đòi lại tiền!” Ông ta kể lể công lao đóng góp những đồng lương ít ỏi ngày xưa. Minh bước tới, nắm cổ áo ông ta xốc dậy: “Đàn ông sức dài vai rộng mà không biết xấu hổ! Bà Lan 15 năm vất vả, ông đã giúp được đồng nào? Mau ra khỏi đây!”
Con gái tôi, Tình, bước tới trước mặt cha. Nó nhìn thẳng vào mắt ông: “Bố không có mặt ngày con đi thi đại học, ngày con lên Hà Nội một mình xách vali tìm nhà trọ, ngày con lấy chồng. Bố chỉ có mặt khi hết tiền, khi đòi tranh nhà. Minh mới là cha của con, là ông ngoại của hai đứa cháu con. Xin bố về thành phố, đừng bao giờ quay lại nữa.”
Thành cúi gầm mặt, không đáp lời. Lệ vội vàng lấy vali của mình xuống xe: “Tôi không đi với ông nữa, ông tay trắng vô dụng!” Bà ta vẫy taxi bỏ đi. Thành đứng chơ vơ bên xe tải chở đầy đồ đạc của mình, lặng lẽ bảo tài xế quay đầu về Hà Nội. Về đến nơi, ông ta chỉ còn đủ tiền thuê một phòng trọ cấp bốn ở Hoàng Mai, nằm co ro trên nền gạch ẩm mốc. Ông bật điện thoại, thấy ảnh tôi và Minh cười rạng rỡ trong đám cưới, đám cháu ngoại quây quần. Ông khóc, nhưng không ai nghe thấy.
Tôi, Lan, giờ đây có một ngôi nhà mái thái khang trang, một người chồng tốt bụng, những đứa cháu ngoại thơ ngây, và cả sự kính trọng của cả làng. Tôi không hận Thành nữa, vì ông ta đã tự tay đánh mất tất cả. Còn tôi, tôi đã được đền đáp xứng đáng cho 15 năm hy sinh tần tảo.





