Cõng Ông Lão Mù Dưới Mưa, Tôi Chết Lặng Khi Thấy Chiếc Vòng Khắc Đúng Tên Và Ngày Sinh Của Mình

Cõng Ông Lão Mù Dưới Mưa, Tôi Chết Lặng Khi Thấy Chiếc Vòng Khắc Đúng Tên Và Ngày Sinh Của Mình

Tôi cõng ông lão mù trên lưng dưới cơn mưa cuối tháng bảy. Bụng sáu tháng rưỡi căng cứng, mỗi bước chân đều khiến tôi nghiến răng. Dép ngập nước, trượt trên nền đất ướt. Ông chỉ hơn bốn mươi cân nhưng với tôi lúc ấy nặng như cả bầu trời. Mưa quất vào mặt. Tôi chỉ biết cúi đầu, hai tay siết chặt cánh tay ông trước ngực.

Khi còn cách cửa cấp cứu khoảng bảy mươi mét, ông lẩm bẩm sát tai tôi: “Hương ơi… đừng mang con đi…”

Chân tôi khựng lại. Tên mẹ tôi là Hương.

Tôi tên Nguyễn Thu Hằng, ba mươi mốt tuổi, công an huyện ngoại thành. Tuổi thơ chỉ có mẹ. Mẹ nói bố rượu chè, nóng nảy, bỏ mặc vợ con rồi chết vì tai nạn khi tôi chưa đầy một tuổi. Không ảnh, không bàn thờ. Tôi tin suốt ba mươi năm.

Đêm ấy tôi khám thai xong vì bụng hơi tức. Chồng đang ở công trình xa, mẹ về quê. Bác sĩ bảo thai ổn. Tôi bước ra mái hiên gần chín giờ tối, mưa đổ ào ạt. Tôi đành mặc áo mưa đi lấy xe. Đoạn đường men theo tường phía tây vắng tanh. Tôi vừa đi hơn trăm mét thì thấy bên mép đường có thứ gì giống bao tải lớn sát gốc xà cừ. Ánh đèn xe máy quét qua, tôi thấy một bàn chân người.

Ông lão khoảng ngoài sáu mươi, quần áo ướt sũng, mắt đầy sẹo, mạch yếu. Tôi cúi xuống gọi. Không trả lời. Tôi gọi cấp cứu. Bác sĩ bảo nếu có thể thì đưa vào ngay. Tôi nhìn quãng đường hơn hai trăm mét, bụng đã lớn. Tôi trần trừ đúng vài giây. Rồi ông co người, môi tím tái. Tôi không thể bỏ chạy. Tôi quỳ xuống, kéo hai cánh tay ông vòng qua vai, cố đứng dậy. Lần đầu thất bại. Lần hai tôi cõng được. Tôi cõng ông, mưa tạt mặt, dép ngập nước, chỉ biết cúi đầu đi về phía ánh đèn khoa cấp cứu.

Đi được vài chục mét, ông cử động. Tiếng rất yếu sát tai: “Hương…” Tôi tưởng nghe nhầm. Ông lại gọi rõ hơn: “Hương ơi… đừng mang con đi. Con bé còn nhỏ.” Một luồng lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi quay đầu, nhưng ông không nhìn thấy gì. Gương mặt ông nhăn lại như mắc kẹt trong một cơn ác mộng kéo dài rất nhiều năm.

Điều dưỡng nhìn thấy, chạy ra với cáng. Tôi vừa buông ông thì bụng căng cứng, phải vịn tường mới đứng vững. Họ đẩy ông vào. Tôi ngồi ngoài hành lang gần mười phút, người ướt từ đầu xuống chân, tay vẫn run. Y tá bảo ông suy kiệt, huyết áp thấp, viêm phổi. Nếu nằm ngoài mưa thêm lâu nữa rất nguy hiểm. Đáng lẽ tôi có thể về. Nhưng hai chữ “Hương ơi” cứ bám lấy tôi.

Hơn nửa tiếng sau bác sĩ hỏi người nhà. Tôi nói chỉ là người đưa vào. Trong người ông không giấy tờ, chỉ chiếc túi vải cũ. Tôi định đi thì phía trong vang tiếng động. Ông cựa quậy, giơ bàn tay lên khoảng không như muốn tìm một người. Tôi bước vào: “Bác ơi, bác đang ở bệnh viện rồi.” Bàn tay ấy chạm trúng cổ tay tôi, nắm rất chặt. Ông hỏi: “Con năm nay bao nhiêu tuổi?”

Tôi sững người. “Cháu ba mươi mốt.” Bàn tay ông run dữ dội. Hai dòng nước chảy ra từ khóe mắt đã mù. Ông thì thầm: “Ba mươi mốt rồi sao?”

Y tá giao chiếc túi vải. Tôi cầm lấy. Bên trong khăn cũ, thuốc, tấm ảnh nhòe và một vật bọc kỹ trong vải trắng. Tôi mở ra. Chiếc vòng bạc trẻ con xỉn màu, mặt trong khắc: “Hằng – 12.5.1995”. Đúng tên, đúng ngày sinh tôi.

Tôi ngồi bất động rất lâu. Bụng tôi động nhẹ, con đạp một cái. Tôi đặt bàn tay lên bụng. Một người đàn ông giữ chiếc vòng khắc tên và ngày sinh của một đứa trẻ suốt hơn ba mươi năm thì phải là quan hệ gì?

Tôi gọi mẹ. Mẹ hỏi ông bao nhiêu tuổi, rồi đột ngột: “Mù à?” Tôi chưa hề nói ông mù. Mẹ biết tôi đang cầm vòng dù tôi chưa kể. Bà khóc, bảo đừng hỏi ông ấy, về nhà ngay. “Nếu con còn coi mẹ là mẹ thì đừng dính vào người đó.”

Tôi mang vòng và ảnh quay lại phòng. Ông tên Thành, quê xã cách nhà tôi chưa mười cây số. Khi tôi hỏi có quen Hương không, ông cứng người. Tôi đặt vòng lên chăn. Ông sờ, rụt tay như bị bỏng. Tôi nói: “Bác giữ vòng khắc tên và ngày sinh tôi, ảnh mẹ tôi, tối qua bác gọi tên mẹ. Tôi có quyền biết.”

Ông hỏi mẹ tôi kể gì về cha. Tôi kể đúng câu chuyện từ bé. Ông hỏi có giấy báo tử không. Tôi chưa từng hỏi. Rồi ông nói: “Trên vai trái gần xương bả vai, có phải có vết bớt màu nâu nhỏ bằng đầu ngón tay, hình giống chiếc lá không?” Tôi lạnh toàn thân. Vết bớt ấy chỉ mẹ, chồng và vài người thân biết. Ông kể: “Ngày con bé mới sinh, chính tôi nhìn thấy. Sinh thiếu tháng, hơn hai cân. Khi thay áo đầu tiên tôi thấy cái bớt, còn đùa với mẹ nó rằng trời đánh dấu sẵn.”

Ông nói tiếp chiếc áo len vàng trong hòm gỗ mẹ tôi là do ông đan lúc mẹ mang thai gần bảy tháng. “Cô cứ coi tôi là người quen cũ của mẹ cô thôi. Nếu bà ấy đã nói cha cô ch/ết rồi, chắc bà ấy có lý do.”

……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

TẠI ĐÂY 👇👇👇

 

Tôi đòi xét nghiệm ADN. Ông gật đầu. Ba ngày sau kết quả xác nhận quan hệ cha con gần như tuyệt đối. Ông chỉ nói rất nhỏ: “Vậy là con bé còn sống thật.” Không reo, không đòi ôm. Chỉ biết đứa con ông tìm suốt ba mươi năm vẫn tồn tại.

Bác sĩ mắt nói tổn thương giác mạc phù hợp với hóa chất mạnh từ nhiều năm trước. Ông kể đêm ấy hai người chặn đường. Một người ông nhận ra hay đi với cậu Tấn – anh ruột mẹ tôi. Có giọng cậu Tấn: “Làm cho nó sợ thôi.” Chất lỏng bắn vào mắt. Ông ngã ven đường. Mẹ đến bệnh viện hai ngày rồi biến mất cùng tôi. Mảnh đất ông bà nội để lại được chuyển nhượng đúng lúc ông nằm viện, chữ ký mang tên ông dù ông không ký.

Tôi tìm ông Phúc làm chứng năm xưa. Ông thừa nhận không tận mắt thấy cha tôi ký. Chữ ký đã có sẵn khi mẹ và cậu Tấn mang giấy tới. Mẹ thú nhận: bà biết cậu Tấn cho người chặn dọa để cha chịu bán đất, nhưng không biết có hóa chất. Chữ ký giả do cậu Tấn nhờ người làm. Một phần tiền nuôi tôi những năm đầu.

Năm tôi mười tuổi, cha từng tìm đến tận cổng nhà thuê. Mẹ nói tôi biết ông còn sống nhưng không muốn gặp, còn đọc “thư” tôi viết. Thực ra tôi đang ở trong nhà, cách ông chưa mười mét. Gói quà ông để ngoài cổng – vở, bút máy xanh, bánh – tôi từng nhặt được rồi mẹ giấu. Cha tin tôi từ chối ông suốt hơn hai mươi năm.

Tôi đưa cha về căn nhà nhỏ gần nhà mình. Chồng tôi chỉ nói: “Nếu đó là bố em, mình đón bố về.” Cha không đòi gì. Ông chỉ xin được đặt tay lên bụng tôi. Đứa bé đạp. Ông khóc mà cười: “Cha không nhìn thấy con lớn lên, bây giờ lại được sờ thấy cháu ngoại.”

Mẹ xin gặp. Cha không tha thứ, cũng không thù. Ông chỉ nói: “Tôi mất mắt, mất nhà, mất con. Bà cũng sống ba mươi năm với chuyện không dám nói. Không ai thắng cả.”

Một buổi chiều tôi đặt tay cha lên bụng lần nữa. Đứa bé đạp mạnh. Tôi gọi: “Bố.” Ông khựng lại, hai tay run. “Con gọi gì?” “Con gọi bố.”

Ba mươi năm đã mất không trở lại. Đôi mắt cha không sáng được. Mẹ phải sống với trách nhiệm. Tôi cũng cần thời gian. Nhưng ít nhất từ ngày ấy, gia đình tôi không còn sống bằng lời nói dối. Đêm mưa năm ấy nếu tôi bước qua ông lão ven đường, có lẽ tôi vẫn tin cha đã chết, còn ông vẫn giữ chiếc vòng trong túi mà không biết người con gái mình tìm cả đời đã từng đi ngang qua. Tôi đã dừng lại. Và người tôi cõng trên lưng chính là người đã mang tên tôi trong lòng suốt hơn ba mươi năm.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!