CҺủ TịcҺ Gιả NgҺèo Vḕ Quȇ Ăп Gιỗ, KҺȏпg Aι Mờι Ngồι Mȃm 3 CҺιếc Audι Xuất Hιệп KҺιếп Cả Họ Cúι Đầu…
Tôi về quê đúng lúc trời vừa tờ mờ sáng. Chiếc xe máy cũ kỹ rít lên từng nhịp rồi tắt lịm trước cổng đình làng họ Lê. Không một ai nhận ra tôi. Cánh cổng vẫn mở toang như mọi năm. Tiếng nói cười rộn ràng vọng ra từ trong sân trước nhà thờ họ, nơi đang chuẩn bị cho ngày dỗ tổ lớn nhất trong năm. Mùi nhang khói thoang thoảng hòa quyện với tiếng dao thớt chan chát, tiếng gọi nhau í ới, và bản nhạc Bolero cũ phát từ loa kéo khiến lòng tôi chợt nhói lên một cảm giác quen thuộc đến xót xa.
Tôi dựng xe vào góc gần bụi tre ven rào, nơi xưa nay vẫn dành cho những chiếc xe máy cũ kỹ. Chiếc áo sơ mi bạc màu, quần tây sẫm không là lượt, đôi giày bụi bặm khiến tôi trông chẳng khác gì một người lao động vất vả. Hai bên con đường dẫn vào sân đình đã kín đặc xe ô tô sang, toàn biển số thành phố và tỉnh. Ai cũng đi cùng gia đình, áo dài truyền thống, sơ mi thẳng nếp, tóc tai gọn gàng. Không khí lễ lạt nhưng cũng không thiếu phần so sánh ngầm trong từng cái bắt tay, từng lời giới thiệu đầy tự hào.
Tôi bước vào sân đình, tim đập mạnh hơn. Mọi người tụ lại thành từng nhóm. Người lớn tuổi ngồi uống trà kể chuyện xưa. Đám thanh niên khoe xe cộ, công việc, mức lương. Phụ nữ bàn chuyện con cái học trường nào, thi đậu bao nhiêu, chuẩn bị đi nước ngoài. Tôi không chen vào nhóm nào, chỉ lặng lẽ nhìn quanh, mong tìm một gương mặt thân quen. Nhưng chưa kịp mở miệng, từ phía hiên nhà đã có tiếng thì thầm cất lên. Ban đầu chỉ là câu hỏi bâng quơ: “Ai về vậy ta?” Rồi ai đó thì thào bán tín bán nghi: “Hình như là thằng Quang.” Câu nói chưa tan thì một giọng khác cất lên rõ ràng, đanh gọn: “Trời đất ơi, tưởng ai, hóa ra là cái thằng đó. Mấy chục năm không thấy mặt, về đây làm gì? Ăn mặc vậy mà dám ló mặt về dỗ tổ.”
Giọng nói ấy quen đến nao lòng – giọng cô ba, người từng ẵm bế tôi lúc mẹ mất, người từng khóc thay tôi khi không còn ai thân thích. Giờ cô lại nói về tôi như nói về người dưng. Những lời ấy không lớn nhưng đủ khiến vài người quay lại nhìn. Ánh mắt đầu tiên là ngạc nhiên, sau đó là dò xét, rồi chuyển dần sang kiểu ánh mắt tôi đã quá quen từ nhỏ – ánh mắt của người coi mình là gánh nặng. Không ai lại gần, không ai chào hỏi, không một cái gật đầu xã giao.
Tôi lặng lẽ gật đầu chào lại, nhưng những cử chỉ ấy như va vào khoảng không. Một người đang sắp mâm cỗ nói vọng ra đủ lớn để nhiều người nghe: “Thằng Quang đó hả? Về thì ra sau phụ rửa bát đi, mâm chén còn đầy.” Không ai cười, không ai phản ứng, như thể đó là điều đương nhiên. Người như tôi về quê không quà, không phong bì, không danh phận thì phải làm vậy. Tôi không giải thích. Không cần, cũng chẳng ai hỏi.
Từ lúc về tới giờ, không ai nhắc tên tôi trong danh sách những người đã gửi tiền cúng dỗ. Không ai hỏi tôi sống ở đâu, làm gì, về bằng gì. Trong cuốn sổ ghi công đức đặt giữa bàn, tên tôi cũng không có. Đám em họ xì xào: “Anh chắc sống đâu đó trong Nam, làm công nhân, về ké cơm một bữa rồi đi.” Một đứa khác bảo tôi trông giống người thất nghiệp. Cả nhóm gật gù. Trong sân đình, không khí vẫn rộn ràng. Bác trưởng họ bước ra thông báo lịch trình cúng dỗ, danh sách những người đóng góp tiền lễ, tiền sửa nhà thờ, tiền xây bia đá. Những cái tên được nêu lên đều là doanh nhân, cán bộ, chủ xưởng. Ai cũng có địa vị rõ ràng.
Tôi ngồi sau bếp, lặng lẽ lau chén đũa. Đám đông hò reo vỗ tay, chụp ảnh, quay video đăng mạng. Một anh họ là thầy giáo đưa mic lên phát biểu cảm ơn các mạnh thường quân. Không khí lên cao trào. Tôi không ở trong phần không khí ấy. Mọi người ăn uống vui vẻ. Những bàn cỗ được chia rõ: bàn dành cho người có tiếng tăm, bàn cho con cháu nội ngoại, vài bàn cho người không rõ vai vế. Tôi không được mời ngồi bàn nào. Tôi vẫn ở sau, tiếp tục sắp chén đũa, phụ dọn thức ăn. Không ai hỏi tôi có ăn chưa, không ai chia phần cho tôi. Tôi cũng không đòi hỏi, vì tôi quen rồi.
Nhưng lúc đó tôi không hề biết rằng, chỉ vài giờ nữa thôi, tất cả những ánh mắt ấy sẽ thay đổi hoàn toàn. Sự thật phía sau bộ quần áo bạc màu và đôi giày bụi bặm của tôi hoàn toàn khác với những gì họ đang nghĩ. Nỗi đau nhói trong tim tôi lúc này không phải vì bị coi thường, mà vì tôi biết rõ họ đang nhìn tôi bằng con mắt của ngày xưa – đứa cháu mồ côi không cha không mẹ.
Buổi trưa trôi qua trong không khí rôm rả. Bàn tiệc đầy ắp món ăn đắt tiền. Người lớn tuổi kể chuyện con cháu làm ăn phát đạt. Người trẻ quay video khoe khéo. Mỗi lời nói đều xoay quanh tiền bạc, chức danh. Không ai để ý góc sân nơi tôi đang lau từng chiếc ly dính dầu mỡ. Người ta kể con trai mình làm ngân hàng, con gái làm bác sĩ, cháu nội được học bổng đi Úc. Mỗi câu khoe là một ánh mắt xoáy về phía tôi như để chắc chắn rằng tôi vẫn đang ngồi đó, vẫn y nguyên cái dáng vẻ lạc lõng.
Một người chú họ vừa rót rượu vừa buông câu đủ lớn để cả mâm nghe: “Cả họ mình ai cũng đàng hoàng, chỉ mỗi thằng Quang là không thấy khá lên được.” Không ai phản bác. Một người ngồi bên phụ họa: “Mấy năm rồi có thấy nó đóng góp gì đâu. Dỗ tổ cũng không thấy gửi phong bì.” Có người khẽ gật kèm nụ cười hờ hững: “Nó có tiền đâu mà gửi, nhìn là biết sống lay lắt.” Bà Tư nghe được thì im lặng rất lâu. Bà đặt chén trà xuống, giọng trầm hơi run: “Nó mồ côi từ nhỏ, tự lo hết mọi thứ. Mỗi người một phận, đừng nói mấy câu bạc bẽo vậy.” Không ai đáp. Không phải vì xấu hổ, mà vì họ không nghĩ mình sai.
Tôi từ xa nhìn bà Tư, khẽ gật đầu. Nước mắt tôi cay xè nhưng không rơi. Không ai thấy ánh mắt biết ơn ấy. Không ai hiểu rằng trong lòng tôi vừa dâng lên một nỗi ấm áp xen lẫn xót xa. Nhưng ngay sau đó, tôi lại cúi xuống tiếp tục công việc. Cả buổi tôi không rời khỏi khu vực sân sau, nơi người ta gom bát đũa, phân loại rác. Có người ra gọi tôi khiêng mâm cỗ lên tầng hai, dặn phải cẩn thận vì trên đó là chỗ ngồi của khách quan trọng. Tôi lặng lẽ làm. Họ không biết người đàn ông đang cúi đầu khiêng mâm nặng trịch ấy từng điều hành những thương vụ triệu đô, từng ký hợp đồng với đối tác nước ngoài bằng tiếng Anh thành thạo, từng thức trắng đêm để xây dựng nên một tập đoàn từ hai bàn tay trắng.
Chiều về, ánh nắng xiên nghiêng qua những hàng cao su cũ, hắt bóng dài xuống sân đình nơi các mâm cỗ dần vơi nhưng tiếng nói cười vẫn không ngớt. Rượu vào lời ra, những câu nói càng thiếu kiêng nể. Một người họ xa chưa từng gặp tôi hỏi lớn: “Nãy giờ tôi chưa thấy anh kia ngồi vào mâm nào. Nó là ai vậy?” Có người đáp: “Nó là thằng Quang cháu bà Tư về ké dỗ tổ thôi.” Người giáo viên gật gù: “Nhìn là biết không ăn nhầm gì.” Một cậu thanh niên mới du học về thêm vào: “Giờ ai mà chẳng có nghề ổn định, sống kiểu không rõ thân phận thì về đây làm gì?” Tiếng cười lan ra khắp sân.
Tôi nghe hết, không phản ứng. Không ai thấy được gì trong gương mặt tôi, nhưng ngay lúc đó tôi biết mình không còn là một phần của nơi này. Dù máu trong người tôi là máu của họ Lê. Mỗi năm một lần tôi vẫn trở về đúng dịp dỗ tổ. Không phải vì cần họ công nhận, chỉ là để đứng trước bàn thờ tổ tiên, thắp nén nhang cho những người đã khuất. Những người không hỏi tôi có bao nhiêu tiền, không quan tâm tôi đi xe gì. Nhưng năm nào cũng vậy, mỗi lần trở về là một lần bị soi xét, một lần lòng tôi lại nhói đau như bị dao cắt.
Khi những tiếng cười dần thưa, một người họ hàng xa đứng lên giữa sân, giọng sang sảng: “Tôi nói thiệt, cái thằng về đây sáng giờ mà không ai nhớ tên nó là ai, về mà không chào hỏi, không đóng góp, không giao lưu thì về làm gì?” Một vài người bật cười, vài người gật gù. Một cậu thanh niên trẻ tiếp lời: “Tụi con ở đây ai cũng biết đóng góp, ai cũng có vai vế rõ ràng, chứ sống lang thang không ai biết làm gì thì có mặt ở đây cũng chẳng ai thấy cần thiết.” Tiếng cười nổi lên. Không ai để ý tôi đang đứng sau cánh cửa bếp. Không ai nghĩ tôi đang nghe tất cả, và nước mắt tôi đang lăn dài trên má mà không một tiếng thở dài.
Lúc ấy, tiếng động cơ lớn vang lên từ phía xa. Âm thanh khác biệt hoàn toàn với những tiếng máy thông thường trong làng. Ba chiếc Audi đen bóng lần lượt tiến vào sân đình. Cửa kính dán phim kín mít, biển số thành phố. Mọi tiếng nói lập tức nhỏ dần rồi tắt hẳn. Người ta ngơ ngác nhìn nhau. Chiếc xe đầu tiên mở cửa, một người phụ nữ trẻ mặc đồ công sở bước ra, tay cầm phong thư dày. Cô tiến lại gần đám đông còn sót lại giữa sân, giọng rõ ràng: “Xin lỗi vì đến muộn, chúng tôi đến đón chủ tịch Lê Quang. Anh có lịch họp với đối tác Singapore vào lúc 6 giờ tối tại thành phố.”
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY
👇👇👇
Mọi ánh mắt dồn lại phía tôi. Sự im lặng lan ra nhanh như một làn sóng lạnh buốt. Có người bối rối, có người chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra. Bác trưởng họ đơ người không phản ứng. Vài người lớn tuổi chép miệng. Mấy thanh niên nhướng mày ngơ ngác. Một đứa bé thốt lên: “Ùa chú Quang là chủ tịch hả mẹ?” Không ai trả lời. Người mẹ cúi đầu im lặng, mặt đỏ bừng.
Tôi không đứng dậy ngay. Tôi từ từ cất chiếc khăn lau chén vào rổ, bước đến gần cô thư ký. Cô cúi đầu kính cẩn đưa phong thư. Tôi không nhận ngay, chỉ quay sang bà Tư dặn dò vài câu nhỏ nhẹ rồi bảo người phụ tá đem vào ít quà biếu bà. Không ai hiểu rõ tôi nói gì nhưng ai cũng thấy rõ một điều. Người đàn ông nãy giờ bị coi là kẻ ăn nhờ, không được mời ngồi bàn, không được chia lễ, chính là người điều hành cả một tập đoàn đang hoạt động cả trong và ngoài nước.
Không ai nói được lời nào. Những người vừa nãy còn bàn về tiền đóng góp, còn đo giá trị bằng danh thiếp, giờ chỉ biết cúi đầu, không ai dám nhìn thẳng vào tôi. Người từng chê bai tôi là kẻ không nghề không nghiệp giờ nuốt nước bọt nghẹn ngào. Những tiếng cười từng văng vẳng giữa sân nay biến mất hoàn toàn. Ba chiếc Audi đứng im, ánh đèn pha hắt lên nền gạch cũ kỹ. Tôi bước về phía xe, không ai ngăn lại, không ai đủ can đảm để gọi tên tôi nữa. Tôi cũng không nhìn lại, chỉ có bà Tư đứng bên hiên, mắt vẫn dõi theo đến khi bóng tôi khuất sau cánh cửa xe rồi quay vào, không nói gì thêm.
Trong không khí lặng ngắt ấy, mỗi người đều cảm thấy một điều gì đó trong lòng mình vừa nứt ra. Một điều gì đó họ không gọi tên được, nhưng biết rõ rằng nó sẽ không lành lại dễ dàng. Tôi ngồi trong xe, nhìn qua kính chiếu hậu thấy cả sân đình vẫn đứng im thin thít. Những người ban nãy còn tán gẫu chuyện kinh doanh, chuyện học hành của con cháu giờ bỗng dưng không ai biết nói gì thêm. Họ đứng thẳng lưng nhưng lòng trùng xuống. Những ánh mắt ai cũng dõi về phía ba chiếc Audi đang lặng lẽ chờ lệnh rời đi.
Khi xe lăn bánh ra khỏi cổng đình làng, tôi không quay đầu. Tôi không để lộ bất kỳ cảm xúc nào, không tức giận, không khinh miệt. Nhưng chính sự im lặng đó khiến họ thấy xấu hổ hơn bất kỳ lời trách móc nào. Trên đường về thành phố, tôi nghĩ lại cả buổi sáng. Những ánh mắt liếc ngang liếc dọc, những câu nói tưởng như vô thưởng vô phạt nhưng đâm rất sâu vào tim. Tôi nhớ ngày tám tuổi, ngày cha mẹ tôi tử nạn trên cầu Trà ngập nước. Bà Tư là người duy nhất nhận tôi về nuôi, bất chấp ánh mắt dị nghị của họ hàng. Bà bán hết miếng đất cuối cùng để đưa tôi lên Sài Gòn học đại học. Những năm đầu tôi làm mọi thứ để sống: bán báo, phát tờ rơi, phụ quán ăn. Có đêm tôi ngủ hành lang ký túc xá vì không đóng kịp tiền phòng. Có ngày chỉ ăn một ổ bánh mì khô với nước lã, vị mặn chát của nước mắt hòa lẫn. Nỗi cô đơn ấy vẫn còn nguyên vẹn, khiến tay tôi siết chặt thành ghế da.
Sau khi tốt nghiệp loại giỏi, tôi bắt đầu từ nhân viên giao hàng, dần leo lên trưởng nhóm, rồi mở công ty tư vấn quản lý tài chính. Năm thứ năm, tôi thành lập tập đoàn LQ Group chuyên logistics, đầu tư và bất động sản. Không ai trong dòng họ biết. Tôi chưa từng kể. Những dự án từ thiện – xây trường, làm cầu bê tông, tài trợ học bổng – tôi đều yêu cầu ẩn danh. Tôi không muốn ai mang ơn. Tôi chỉ muốn những đứa trẻ như tôi ngày xưa có thêm con đường để thoát khỏi cảm giác bị loại trừ chỉ vì nghèo.
Về quê lần này, tôi không định nói gì. Tôi chỉ muốn thắp một nén nhang cho tổ tiên rồi trở về ngay trong chiều. Nhưng từ lúc bước chân vào cổng đình, tôi đã biết mọi thứ vẫn y như cũ. Những lời xì xào, những ánh mắt đánh giá, những câu nói tưởng như vô thưởng vô phạt nhưng đâm rất sâu. Điều cay đắng nhất không phải là bị coi thường mà là biết chắc rằng mình không thể thay đổi được điều gì trong ánh nhìn của những người mang cùng một dòng máu. Nước mắt tôi lăn dài trên má khi xe chạy trên quốc lộ, nhưng tôi lau đi nhanh chóng.
Tôi gọi điện cho bà Tư ngay khi xe ra đến quốc lộ. Giọng bà vẫn nhẹ nhàng như xưa: “Con mệt không?” Tôi không trả lời ngay. Tôi biết nếu nói ra tôi sẽ phải kể cả một đời mà bà thì không cần nghe để hiểu. Trong căn bếp cũ giữa hai người, một người già nua, một người thành đạt, không có lời nói nào đủ để diễn tả hết những gì đã đi qua. Chỉ có sự yên lặng và một nỗi đau rất cũ vẫn chưa hề lành.
Những ngày sau đó, tôi nghe loáng thoáng tin từ làng. Người ta bắt đầu nhắc đến tôi với cách gọi khác. Không còn là “thằng mồ côi”, không còn là “đứa không chịu khá lên”. Họ tụ họp bàn tổ chức lễ tạ ơn nhưng không ai dám đứng ra gọi tôi lần nữa. Bác trưởng họ nói nhỏ: “Nó về một lần là đủ rồi, mình không còn tư cách gì mà mời nó lần nữa.” Tôi không về. Tôi vẫn tiếp tục cuộc sống thường ngày ở thành phố. Vẫn đi làm đúng giờ, vẫn ký duyệt từng dự án, vẫn tài trợ cho các vùng quê nghèo như trước. Nhưng sau chuyến đi ấy, có điều gì đó đã nhẹ lại trong lòng.
Tôi biết mình không cần chứng minh thêm nữa. Nếu có trở về thì cũng không phải để ai công nhận mà để tôi tự biết mình đã đi xa đến đâu từ nơi mình bắt đầu. Mỗi tháng tôi vẫn gọi điện cho bà Tư, gửi thuốc bổ, gửi quà bánh. Bà chưa từng hỏi tôi lương bao nhiêu, nhà to cỡ nào, đi xe gì. Bà chỉ hỏi: “Con có khỏe không? Ăn uống có đúng bữa không?” Những câu hỏi giản dị mà suốt đời bà chỉ dành cho một người.
Mùa dỗ tổ năm sau, người ta vẫn làm lễ như thường lệ. Nhưng không ai dám nói lời giễu cợt khi thấy một người về bằng xe máy mặc áo sơ mi bạc màu, ngồi ở góc sân. Không ai dám bảo ai không đáng để mời ngồi cùng mâm. Tên tôi được nhắc đến trong bài phát biểu khai mạc lễ, không phải như khách mời danh dự mà như một tấm gương để con cháu nhìn vào. Một đứa trẻ hỏi bà nội: “Sao năm ngoái không ai cho chú Quang ngồi bàn chính?” Bà nội lúng túng rồi chỉ nói một câu: “Vì năm ngoái người lớn còn chưa học xong một bài học.”
Tôi ngồi ở văn phòng thành phố, nhìn ra cửa sổ, nghĩ về sân đình làng họ Lê. Có những điều không thể sửa lại nhưng có thể thay đổi từ hôm nay. Và bài học về sự tử tế, về cách nhìn người, đôi khi đến muộn. Nhưng một khi đã đến thì không ai còn có thể quay đi được nữa. Câu chuyện của tôi rồi cũng sẽ trôi vào ký ức như bao chuyện khác. Nhưng những gì tôi để lại không phải là tài sản hay danh tiếng, mà là một vết hằn âm thầm trong suy nghĩ của từng người từng xem thường tôi. Và vết hằn đó sẽ khiến họ nhớ mãi một điều: đôi khi sự im lặng của một con người là lời nhắc mạnh mẽ nhất rằng nhân cách không thể đo bằng mắt và lòng người không thể định giá bằng ví tiền.





