Chê Thông Gia “Chân Đất Mắt Toét” – Mẹ Chồng Tái Mặt Khi Thấy Lãnh Đạo Quân Khu Cúi Chào Ông Thông Gia…….
……………………………………………
Tôi đứng nép bên cạnh cha, bộ váy cưới trắng tinh khôi bỗng trở nên nặng nề đến lạ. Sảnh tiệc xa hoa, ánh đèn pha lê chói lóa, khách khứa toàn người sang trọng – nhưng tôi chưa bao giờ thấy mình rẻ rúng đến thế. Mẹ chồng tôi, bà Xuân, bộ áo dài nhung đỏ thẫm, vàng đeo đầy cổ, đang nhìn cha tôi bằng ánh mắt như nhìn một con bọ dưới gót giày.
Cha tôi – ông Lực – bộ quần áo xám sờn vai, đôi giày da nứt nẻ, tay cầm chiếc túi vải cũ. Ông đi giữa sảnh tiệc, lầm lũi, cúi đầu, bước chân ngập ngừng như sợ làm bẩn tấm thảm đỏ. Bà Xuân hất hàm, giọng lanh lảnh: “Ái chà, ông thông gia đấy à? Đi đường bụi bặm thế nào mà trông lếch thếch thế kia? Tôi đã bảo rồi, ở quê thì cứ ở nhà, lên đây làm gì cho cực thân, lại còn không quen nếp sống thành phố, người ta nhìn vào lại đánh giá cho.”
Cha tôi khựng lại. Nụ cười hiền hậu trên môi cứng đờ. “Dạ, chào bà thông gia. Hôm nay ngày vui của các cháu, tôi dẫu sức yếu cũng phải lên nhìn mặt con cháu một chút.”
Bà Xuân không đáp, chỉ bĩu môi, ánh mắt dò xét từ đầu đến chân cha tôi. “Ông nhìn xem, khách khứa nhà tôi toàn cán bộ, người làm ăn lớn. Ông ăn bận thế này tôi biết sắp xếp cho ông ngồi chỗ nào? Thôi thì… bên góc kia, chỗ gần cửa ra vào của nhân viên phục vụ, tôi có dặn kê dư một bàn. Lát nữa mấy người họ hàng dưới quê lên thì ông dẫn họ ra đấy ngồi cho khuất mắt.”
Tôi không thể chịu nổi nữa. “Mẹ sao mẹ có thể nói như vậy? Bố con là đại diện nhà gái, sao mẹ lại bắt bố con ngồi ở cái xó xỉnh cạnh bếp?”
Tôi quay sang tìm Minh, chồng sắp cưới của tôi. Anh ta đứng cách đó vài bước, lúng túng gãi đầu, mắt lảng tránh. Anh ta sợ mẹ mình hơn sợ bất cứ điều gì, làm sao dám lên tiếng bảo vệ cha tôi lúc này.
Bà Xuân trừng mắt: “Cô ăn nói cho cẩn thận. Mâm cỗ đằng trước toàn nhân vật quan trọng, ông ấy ngồi chung làm sao bắt chuyện được? Người ta nói chuyện tiền tỷ, ông ấy chen vào nói chuyện trồng lúa nuôi gà à? Cô đã bước chân vào cái nhà này thì phải biết điều, đừng có mang cái thói nhà quê lấn lướt nhà chồng.”
Từng lời như mũi dao cứa vào lòng. Cha tôi bước đến, đưa bàn tay thô ráp lau nước mắt cho tôi. “Không sao đâu con. Bố ngồi đâu cũng được, miễn là nhìn thấy con gái bố xinh đẹp trong ngày cưới là bố vui rồi.”
Sự nhẫn nhịn của cha tôi càng làm bà Xuân hả hê. Bà ra hiệu cho nhân viên phục vụ: “Đưa ông bác này ra bàn số 45 ở góc trong cùng ấy.” Người phục vụ trẻ ái ngại nhìn cha tôi, rồi đưa tay mời. Cha tôi mỉm cười, quay lại gật đầu chào bà Xuân một lần nữa, rồi lầm lũi bước đi. Bóng lưng gầy gò hơi còng của ông lọt thỏm giữa hàng chục dãy bàn tiệc trắng toát. Tôi nhìn theo, nước mắt chảy dài, hai hàm răng cắn chặt đến bật máu.
Rồi tiết mục trao sính lễ trên sân khấu diễn ra. Bà Xuân bước lên với phong thái nữ hoàng, phía sau là những mâm vàng bạc nặng trĩu. Bà đeo từng chiếc kiềng vào cổ tôi, mỗi lần lại cố tình nâng lên hạ xuống cho ánh đèn chiếu vào, miệng kể lể giá trị từng món. Tôi đứng như pho tượng, cảm thấy mỗi vòng vàng lạnh lẽo là một gông cùm trói buộc.
“Và tiếp theo, xin kính mời đại diện gia đình nhà gái – ông Lực, thân phụ của cô dâu – lên sân khấu trao quà cưới cho hai con!”
Cả hội trường im bặt. Cha tôi đang cầm đôi đũa ở góc bàn, giật mình đứng dậy, vội lau tay vào vạt áo, run rẩy xách chiếc túi vải cũ, lầm lũi bước lên. Tiếng cười khúc khích, mỉa mai lại vang lên từ dãy bàn của bà Xuân.
Cha tôi đứng trước sân khấu, vầng trán lấm tấm mồ hôi. Ông cúi đầu, lấy từ trong túi vải ra một gói nhỏ bọc bằng mảnh nhung đỏ tía đã ngả màu. Bàn tay gân guốc run mở từng nếp gấp, bên trong là chiếc nhẫn vàng ta mảnh khảnh, kiểu dáng mộc mạc từ mấy chục năm trước.
“Bố ở quê nghèo khó, chẳng có của nả gì. Đây là chiếc nhẫn kỷ vật của mẹ con ngày xưa. Bố giữ lại cẩn thận, hôm nay trao cho con, mong vợ chồng con sống bạc đầu.”
Lời chúc chưa dứt, bà Xuân đã sấn tới, giật phắt mảnh nhung, cầm chiếc nhẫn lên xăm soi dưới ánh đèn. Nụ cười khinh khỉnh nở trên môi, bà cất giọng thê thé vang vọng qua micro:
“Trời đất ơi, cả cơ ngơi nhà gái lặn lội lên thành phố mà chỉ có chừng này thôi sao? Cái nhẫn mỏng như lá lúa, chưa nổi nửa chỉ. Ông thông gia ơi, nghèo thì cũng biết đường đi vay đi mượn chứ, ai đời mang đồ đồng nát lên đây làm trò cười cho quan khách đẳng cấp nhà tôi thế này? Thật không biết giấu mặt vào đâu!”
Tiếng cười ồ lên từ dưới khán đài. Tôi lao tới, giật chiếc nhẫn lại, ôm chặt vào ngực. Tôi nhìn quanh – những khuôn mặt cười cợt, gã chồng hèn nhát quay mặt đi, và cha tôi – đứng cúi gằm, hai vai run bần bật, đôi tay sần sùi bấu chặt vào vạt áo. Tôi nấc lên từng hồi: “Mẹ trả lại cho bố con! Mẹ giàu có tiền tỷ, mẹ có quyền khinh cái nghèo của con, nhưng mẹ tuyệt đối không được xúc phạm kỷ vật của mẹ con, không được giẫm đạp lên nhân phẩm của bố con!”
Bà Xuân chỉ thẳng tay vào mặt tôi, rít lên: “Nhân phẩm? Ở cái xã hội này không có tiền thì lấy đâu ra nhân phẩm? Cô đang đứng ở đây bằng tiền của nhà tôi, mặc váy cưới bằng tiền của nhà tôi. Nếu thấy nhục thì lột hết ra, hai bố con xách nhau về cái máng lợn ở quê mà giữ lấy nhân phẩm hão huyền!”
Tôi khuỵu gối xuống, những giọt nước mắt rơi lã chã xuống sàn lạnh. Bà Xuân đứng trên cao, hài lòng nhìn kẻ yếu thế đã quỳ dưới chân mình.
Rồi mọi thứ thay đổi.
Từ bên ngoài, một chuỗi âm thanh dồn dập vang lên – động cơ xe hạng nặng, tiếng phanh gấp, tiếng lốp xe rít trên mặt đường. Cánh cửa lớn của sảnh tiệc bị đẩy toang. Tiếng bước chân nện xuống nền gạch đều tăm tắp, mạnh mẽ, làm rung chuyển những chùm đèn pha lê trên trần.
Mọi người quay đầu. Những nụ cười giễu cợt đông cứng.
Một đội hình hàng chục người mặc quân phục xanh thẫm, chỉnh tề uy nghiêm, tiến thẳng vào sảnh tiệc. Dẫn đầu là một người đàn ông khoảng sáu mươi tuổi, vóc dáng cao lớn, bệ vệ, mái tóc điểm bạc nhưng khuôn mặt sắc xảo, góc cạnh. Trên ngực áo, huân huy chương lấp lánh đủ màu. Đôi mắt sâu thẳm, sắc lẹm như chim ưng.
Toàn bộ hội trường im bặt. Những kẻ vừa cười nhạo cha tôi giờ đây lùi lại, tự động xếp thành hai hàng, cúi gập người. Bà Xuân trên sân khấu chớp mắt, rồi bừng sáng – bà nghĩ đây là khách quý do nhà bà mời. Bà ta vội vã bước xuống, uốn éo chạy ra đón.
“Ôi chao, ngọn gió lành nào đưa thủ trưởng đến đây ạ! Mời thủ trưởng lên bục danh dự – ạ!”
Vị tướng ném về phía bà một ánh nhìn lạnh lẽo. Ông gạt phắt bàn tay đang vươn ra của bà Xuân, bước lướt qua bà như lướt qua một khúc cây khô. Bà Xuân lảo đảo, mặt mũi tái mét.
Tầm mắt của vị tướng dừng lại. Nơi bục sân khấu – tôi đang quỳ gập người, ôm chiếc nhẫn kỷ vật. Và bên cạnh tôi, cha tôi, dáng hình gầy gò trong bộ quần áo sờn rách, cúi gằm mặt.
Khoảnh khắc đó, bước chân uy dũng của vị tướng khựng lại. Đôi mắt từng nhìn thấy máu đổ, từng đối diện cái chết không chớp, bỗng đỏ hoe, ngấn nước. Ông hít một hơi thật sâu, bỏ lại đội cận vệ, tự mình sải những bước dài về phía bục sân khấu.
Bà Xuân hoảng hốt chạy theo: “Thủ trưởng, ngài đi nhầm rồi! Chỗ đó bẩn lắm, ông già nhà quê đó là thông gia bên nhà gái – nghèo hèn, đầu óc lẩm cẩm – thủ trưởng cẩn thận kẻo ông ta làm bẩn quân phục của ngài!”
“Câm ngay cái miệng lại!” Một sĩ quan cận vệ quát lớn. Bà Xuân giật mình, bịt miệng, hai chân run lẩy bẩy.
Vị tướng bước lên bục…………………………….
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Ông dừng lại trước mặt cha tôi, đứng nghiêm. Hai gót giày da đen bóng dập vào nhau – một tiếng “cạch” khô khốc vang vọng cả hội trường. Tấm lưng thẳng tắp như cây tùng. Cánh tay phải vung lên, bàn tay duỗi thẳng, đặt ngang sát đuôi lông mày. Một cái chào theo đúng điều lệnh quân đội, trang nghiêm, kính cẩn, hướng về phía cha tôi.
“Báo cáo đại đội trưởng! Binh nhì Hoàng Văn Thép – thuộc tiểu đoàn B, trung đoàn 9 cảnh vệ – đã có mặt! Kính chào thủ trưởng!”
Bà Xuân nghe xong câu đó, hai chân bủn rủn, ngã khuỵu xuống thảm đỏ. Mắt bà trợn ngược, miệng há hốc, không thể tin vào những gì vừa nghe.
Cha tôi chậm rãi ngẩng khuôn mặt nhăn nheo, đôi mắt vẩn đục nheo lại nhìn người đàn ông đang chào mình. Rồi ông mỉm cười, bàn tay với những ngón tay thiếu mất một đốt vì mảnh đạn năm xưa, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay đang giơ lên chào của vị tướng.
“Cậu Thép đấy à? Trà này mang hàm tướng rồi cơ đấy, oai phong quá. Tôi già rồi, mắt lại mờ, đứng xa suýt không nhận ra thằng lính liên lạc bướng bỉnh ngày xưa của đội mình.”
Vị tướng già từ từ hạ tay xuống, giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má xạm nắng. Hai tay ông nắm lấy đôi bàn tay thô ráp của cha tôi, giọng nghẹn ngào: “Báo cáo anh, dù em có mang hàm gì, ngồi vị trí nào, trước mặt anh em vẫn mãi là thằng Thép – cái thằng binh nhì ngu ngốc được anh xả thân lấy mình chắn đạn cối cứu mạng giữa chiến trường Khăn Mươi năm ấy! Khắp thiên hạ này, không ai dám bắt anh phải cúi đầu! Tại sao? Tại sao anh lại ở đây chịu đựng sự tủi nhục này?”
Cả hội trường nín thở. Vị tướng quay ngoắt người lại, chỉ tay về phía cha tôi, cất giọng oang oang vang dội khắp bốn bức tường:
“Các người mở to mắt ra mà nhìn cho kỹ! Các người gọi người đàn ông này là kẻ bần nông, là thứ rẻ rách không đáng ngồi mâm? Để tôi nói cho các người biết – 40 năm trước, tại cao điểm ác liệt nhất của chiến trường biên giới, chính người đàn ông gầy gò này, đại đội trưởng của tôi, đã lấy thân mình hứng chụm mảnh đạn pháo để nhường con đường sống cho đồng đội. Bàn tay ông ấy mất đi một ngón, mảnh đạn vẫn còn găm trong lồng ngực, mỗi khi trái gió trở trời lại đau buốt tận xương. Ông ấy đã cõng tôi dòng rã ba ngày đêm băng qua cánh rừng rực lửa. Máu của ông ấy nhuộm đỏ cả vạt áo lính!”
Cha tôi khẽ kéo vạt áo vị tướng: “Thôi cậu Thép, chuyện qua lâu rồi nhắc lại làm gì. Tôi làm nông quen rồi, người ta nói vài câu chẳng mất miếng thịt nào. Cậu đừng làm lớn chuyện, nay là ngày vui của cháu Tuyết.”
Vị tướng không thể nguôi giận. Ông trừng mắt nhìn bà Xuân – người đàn bà đang quỳ rạp dưới sàn, lớp phấn son nhòe nhoẹt vì mồ hôi và nước mắt, thảm hại. Bà ta lắp bắp vái lia lịa: “Tôi có mắt như mù! Xin thủ trưởng đại lượng tha lỗi! Xin ông thông gia bỏ qua cho sự ngu dốt của người đàn bà nông cạn này! Tôi sai rồi – ngàn lần, vạn lần tôi sai rồi!”
Vị tướng bước tới một bước, mũi giày da đen bóng dừng trước mặt bà Xuân, giọng lạnh như băng: “Bà nói nhà bà có tiền tỷ, bà khoe khoang mớ vàng bạc rẻ tiền này và cho mình cái quyền trà đạp lên nhân phẩm của người khác? Bà có biết ngày xuất ngũ, anh Lực đã từ chối mọi chế độ đãi ngộ cao cấp, nhường hết nhà cửa, tiêu chuẩn cho các gia đình liệt sĩ khó khăn hơn, để lùi về quê làm một người nông dân nghèo khó không? Cái nhẫn vàng mỏng manh bà vừa miệt thị, nó nặng hơn toàn bộ gia sản rác rưởi của nhà bà cộng lại – vì nó được đánh đổi bằng máu, bằng nước mắt và bằng nhân cách cao thượng của một bậc anh hùng!”
Bà Xuân nấc nghẹn, nằm gục xuống sàn. Đám khách nhà giàu xung quanh xì xào, thi nhau buông lời mắng mỏ bà Xuân để tự rửa sạch liên can.
Trên bục, tôi từ từ đứng dậy. Nỗi tủi nhục tan biến, thay vào đó là sự tự hào mãnh liệt về cha. Tôi quay sang nhìn Minh – gã chồng hèn nhát đứng hóa đá, mặt đần thối ra. Tôi đưa tay lên cổ, tháo tung từng chiếc kiềng vàng, tháo cả bông tai, lắc tay, gom thành mớ, rồi ném mạnh xuống trước mặt mẹ chồng và Minh.
“Xoảng!”
“Tôi trả lại hết cho nhà anh! Gia đình các người có tiền nhưng tâm hồn mục nát, nghèo nàn đến thảm hại. Các người không xứng đáng với tôi, càng không xứng đáng đứng chung bầu không khí với cha tôi. Đám cưới này hủy bỏ!”
Minh hoảng loạn lao tới níu tay tôi, nhưng hai người lính cảnh vệ đã bước tới, trừng mắt khiến hắn sợ hãi lùi lại, vấp ngã trổng kề ra đất.
Vị tướng quay sang tôi, ánh mắt rực sáng tán thưởng: “Cháu gái, cháu làm đúng lắm! Con gái của anh Lực không thể cúi đầu trước bọn chọc phú còn con này được. Lên xe của chú – hôm nay lực lượng quân khu sẽ hộ tống hai cha con cháu về tận nhà!”
Vị tướng đích thân dìu cha tôi bước xuống bục. Tôi nhặt chiếc túi vải cũ, cất chiếc nhẫn kỷ vật của mẹ vào sát trái tim, ngẩng cao đầu bước theo. Họ đi đến đâu, đám đông tự động giạt ra hai bên đến đó, cúi gập người cung kính nhường đường. Bước chân vững trãi, hiên ngang, bỏ lại sau lưng một sảnh tiệc tan hoang.
Bà Xuân vẫn quỳ gục trên sàn, hai tay cào xé thảm đỏ trong nỗi ân hận tột cùng, tiếng khóc thảm thiết vang vọng giữa hội trường trống rỗng. Cái kết ê chề, bẽ bàng nhất đã dáng xuống đầu kẻ ác. Từ nay về sau, gia đình bà Xuân sẽ mãi mang vết nhơ của sự hợm hĩnh, trở thành trò cười cho miệng lưỡi thế gian.
Cha tôi ngồi trong xe, bàn tay sần sùi nắm lấy tay tôi, ông không nói gì, chỉ mỉm cười hiền hậu. Ánh đèn đường hắt vào qua ô kính, soi sáng khuôn mặt nhăn nheo, khắc khổ – khuôn mặt của một người nông dân, của một người lính, và của một người cha vĩ đại nhất mà tôi có.





